TRUNG HỌC DUY TÂN - PHAN RANG TRUNG HỌC DUY TÂN - PHAN RANG
Nơi gặp gỡ của các Cựu Giáo Sư và Cựu Học Sinh Phan Rang - Ninh Thuận
 
 Trang BìaTrang Bìa   Photo Albums   Trợ giúpTrợ giúp   Tìm kiếmTìm kiếm   Thành viênThành viên   NhómNhóm   Ghi danhGhi danh 
Kỷ Yếu  Mục Lục  Lý lịchLý lịch   Login để check tin nhắnLogin để check tin nhắn   Đăng NhậpĐăng Nhập 

đại thừa tiểu thừa Phật Giáo

 
Gửi bài mới   Trả lời chủ đề này    TRUNG HỌC DUY TÂN - PHAN RANG -> Tôn Giáo
Xem chủ đề cũ hơn :: Xem chủ đề mới hơn  
Người Post Đầu Thông điệp
tonthattue



Ngày tham gia: 17 Jul 2010
Số bài: 155
Đến từ: Georgia USA

Bài gửiGửi: Wed Feb 25, 2015 7:52 pm    Tiêu đề: đại thừa tiểu thừa Phật Giáo


đại thừa và tiểu thừa
tôn thất tuệ

Dẫn nhập: người bạn của tôi ở Canada hỏi hai chuyện, thứ nhất vì sao Thiên Chúa Giáo phát sinh ở Do Thái rồi chạy qua La mã; thứ hai là sự khác biệt giữa đại và tiểu thừa PG. Câu hỏi đầu tôi đả trả lời qua bài: Từ Jerusalem đến Rome *.Đây là phần thứ hai.

Thưa anh,
Trong con số hạn chế sách vở mà tôi có dịp đọc, cuốn The Tree of Enlightenment của Santina rõ ràng mà sâu sắc nhất. Ông nói cuốn nầy không những để dẫn lối (initiate) người mới mà còn để "tune up" (chữ của tôi) những Phật Tử quan niệm PG tiêu cực, trái khoa học v.v... Tôi có viết giới thiệu một chương. Những người thông thạo Hoa Nghiêm sẽ ngạc nhiên cuốn sách không có một chữ cho kinh nầy.

Lý do là Santina đã học Phật từ tạng điển Pali. Ông bắt đầu với điều gọi không đúng là Tiểu Thừa hoặc Nam Tông. Sacred-texts liệt kê kinh điển dưới danh hiệu Southern Buddhism để đối đãi với bắc tông là đại thừa.

Hai chữ bắc tông và nam tông ít gây xung đột hơn đại và tiểu thừa. Sự xung đột cũng do tham sân si nhưng ngày nay ai cũng nhận rằng tiểu / đại thừa chỉ khác nhau về hình thức. Bắc tông chỉ khai triển những điều đã có trong Nam tông.

Ngày nay danh xưng vi diệu pháp dùng nhiều hơn luận tạng, một trong ba tạng gọi là ba cái thúng, vì vi diệu pháp đã nói đến những bí yếu, nhiều chỗ vượt qua ngôn ngữ mà Phật phải im lặng khi bị hỏi hạch. Lối gọi ấy cho thấy sự tôn kính lẫn nhau.

Những khác biệt của hai ngành nầy chỉ ở bình diện thứ yếu. Nam Tông còn giữ truyền thống cũ như khất thực, đắp y vàng. Tiểu thừa còn được gọi không chính xác là PG nguyên thủy (early / primitive Buddhism).

Sự tách đôi hai ngành xuất hiện khi xã hội Ấn đã có nhiều thay đổi. Khôi hài, nó xẩy ra vì vài chuyện rất nhỏ liên quan lề lối sinh hoạt của tu viện (Tăng Già). Vùng dân sinh sống nới rộng, các thầy đi thuyết giảng cần chút tiền qua đò, hay đến những nơi không quen cúng dường thì phải mua thức ăn. Nhưng nhóm bảo thủ thì không chịu. Cần nhớ, vào những ngày cuối đời, Phật lưu ý A Nan phải thích ứng lối sống của Tăng Già với những điều kiện sinh sống mới. Ngài chỉ nói đến Pháp là cần giữ để cầm cân nẩy mực. Sư sải bây giờ khỉnh mũi cười chuyện tiền còm đi đò nầy vì lắm ông giữ mấy trăm triệu trong nhà băng do các sư bà cầm sổ sách.

Sự tách đôi nầy không có một chi tiết nhỏ nào giống sự tách đôi Thiên Chúa Giáo thành một bên là Western Roman Catholic và một bên là Eastern Orthodox, song hành và xúc tác bởi, sự chia đôi đế quốc La Mã. Orthodox chỉ khác Roman Catholic ở chỗ không có giáo hoàng.

Bên trên tôi có nói sự xung đột giữa tiểu / đại thừa là do tham sân si. Thật vậy, nhiều người trong tiểu thừa cho rằng kinh chữ Phạn không phải là kinh Phật mà là kinh của Long Thụ. Họ chỉ dựa vào sự kiện các kinh nòng cốt của đại thừa xuất hiện chừng hai hay ba trăm năm sau khi Phật nhập diệt. Hai hệ phái tu tập theo những kinh khác nhau. Kinh Di Đà ảnh hưởng mạnh mẽ bên Bắc tông qua Tịnh Độ nhưng không có bên Nam Tông.

Bây giờ vẫn còn những sự bàn luận trên cái “nếu”. Nếu trưởng lão Xá Lợi Phất không chết sớm như Nhan Hồi của Khổng Tử để được truyền thừa thay vì Ca Diếp, nếu vậy thì PGs sẽ không đóng kín cửa sau khi Phật qua đời, thay vì quảng bá như chính Phật làm. Người ta qui trách Ca Diếp làm cho Phật Giáo thoái hóa ngay vì y thoái được ghi nhận bởi sư Pháp Hiển viếng xứ Phật năm 399, không đợi đến phát súng ân huệ của Hồi giáo. Chỉ thấy những gì xẩy ra với Ca Diếp nhưng không thể chắc những gì về Xá Lợi Phất, con cá sẩy bao giờ cũng lớn. Tuy nhiên vùng Pali thích Xá Lợi Phất, còn Ca Diếp có sự ủng hộ ở Bắc Tông. Thiền tông luôn nói đến chuyện Ca Diếp cười khi Phật đưa cành bông cho đại chúng xem.

Thích Ca đã dùng một phương tiện ai cũng có đó là học theo truyền khẩu, tuy ngài đủ sức viết, và nền văn minh có sẵn ngôn ngữ. (Socrate, Khổng Tử, Jesus đều làm như vậy). Kinh do Phật giảng trực tiếp hay các môn đệ kể lại, rải rác khắp tiểu lục địa Ấn. Cũng như Jesus, như Khổng Tử, Thích Ca không ngồi một chỗ mà thuyết. Ngôn ngữ học, nhân chủng học cho rằng truyền khẩu có giá trị hơn chữ viết, vì nó như mạch sống tự nhiên. Nói như bây giờ cái gì cũng store trong computer, cái gìcũng dựa trên các web; một ngày đẹp trời nào đó computer chết, internet ngưng, tất cả đều đi theo như ánh mắt em tôi đã chợt tắt.

Sau khi Phật nhập diệt, vua Asoka đã giúp chấn hưng Phật Giáo. Em vua là một nhà tu và đã cầm đầu một nhóm sư từ đông bắc Ấn đi xuống phía nam. Nơi khởi hành là Bồ Đề Đạo Tràng. Nơi dừng chân chính là Tích Lan (Ceylon, Sri Lanka). Từ hòn đảo nầy sư sải dùng thuyền ven bờ như các thuyền buôn khác, truyền đạo đến mãi tận Nam Dương, Việt Nam, Kampuchia...

Tích Lan là gốc phát triển PG qua Tây Phương, sau khi nhiều học giả Tây Phương khai quật kho tàng kinh điển tiếng Pali. Đóng góp nhiều nhất là của Henry Steele Olcott, cũng là người vẽ lá cờ PG. Ngày nay Tây Phương biết thêm về đại thừa nhờ Nhật và Đài Loan.

Pali là tiếng sống langue vivante sinh ngữ; Sancrit là cổ ngữ như chữ quốc ngữ và Hán Tự. Khi em vua Asoka và tùy tùng “nam phương trực chỉ hành”, PG chưa có kinh điển bằng Sancrit. Gần mấy trăm năm sau, trong hai thế kỷ trước và sau Thiên Chúa, đại thừa hình thành. Thêm nhiều kinh điển được sưu tập và viết theo Sankrit, quan trọng nhất là Diệu Pháp Liên Hoa (chúng sinh có thể thành Phật).

Đại thừa theo con đường tơ lụa (Silk Road) về hướng Đông Bắc tức là Tây Tạng và Trung Hoa; đấy cũng là hướng thoát khi Hồi Giáo đuổi PG khỏi nơi sinh. Từ đó có danh từ Bắc Tông đồng nghĩa với đại thừa và kinh điển Sankrit.

Theo tôi dùng Bắc và Nam Tông thuận tiện hơn vì nó mang tính chất địa lý.

Vì tính chất ào ạt và chính trị, việc truyền bá Thiên Chúa Giáo được xem là xuất hiện đầu tiên trên mức độ rộng lớn, với các cuộc cải đạo hằng loạt ở Nam Mỹ bằng những phương tiện riêng. Thứ đến là Hồi giáo. Nhưng các sử gia cho rằng PG là tôn giáo đầu tiên truyền bá có hệ thống như thuyền bè qua ĐNA, đi bộ qua Tàu và đến tận Ai Cập, Hy Lạp, với những phương cách khác.

Trước đây ở VN, sư áo vàng không được coi trọng và quan niệm tiểu thừa là nhỏ bé chỉ lo độ mình còn đại thừa độ hết chúng sinh. Mấy thầy áo đà chắc gì đã độ được mình mà nói chúng sinh. Bắc tông ở VN 100% giống Tàu. Hãy xem cách đọc sớ. Ông sư quỳ trước bàn Phật mở rộng tờ sớ to như tờ nhật trình, gia chủ đội cái khay có cái bao sớ. Ông sư giống như thầy ký biết chữ làm đơn trình quan huyện, quan phủ, quỳ đọc thỉnh nguyện thư. Người dân dốt chữ nhưng đội cái bì sớ chứng minh mình là đương sự. Áo quần, mũ mão, chuông trống, kinh kệ v.v...chỉ khác chỗ đọc Hán Tự theo lối Việt.

Đại thừa phóng khoáng hơn, ít “society bound” nên dễ hòa hợp với địa phương. Khi đến Trung Hoa thì môn phái nầy tiếp tục phát triển để có thêm nhiều nét khác hơn. Ngạn ngữ có câu: cái gì qua Tàu cũng bị Tàu hóa (toute chose qui passe en Chine sera chinisée). Đầu tiên những dịch giả, nhờ có tu chứng đạt tinh lý của kinh, đã chuyển một ngôn ngữ đầy hình ảnh, đầy tưởng tượng với một tầm nhìn quá rộng rãi qua một ngôn ngữ cô đọng và ngắn gọn. Họ đã tìm mọi cách để dịch những thuật ngữ PG, hoặc phiên âm (ba la mật) hoặc theo nghĩa (giác ngộ, ngã…) có khi cả hai (đà la ni, chú, chân ngôn; có khi “a nậu đa la tam miệu tam bồ đề” có khi ‘vô thượng chánh giác”). PG tại TH là một ví dụ của trăm hoa đua nở.

Khi tiếp nhận đại thừa từ Tàu, giới áo nâu áo lam, với bản chất tự tôn sẵn có, đã tự cho mình cao hơn giới nguyên thủy; rõ nhất là giới áo vàng trong Nam bị xem như “mọi Mên”. Nhưng sự kỳ thị có thể mang một lý do sách vở: giải thích ngũ thời của phái Thiên Thai một cách sai lạc. Tông phái nầy chia sự giáo huấn của Phật thành 5 thời liên tiếp: Hoa Nghiêm, A Hàm, Phương Đẵng, Bát Nhã và Pháp Hoa. Mỗi giai đoạn có nội dung riêng nhưng nằm chung một hệ thống dẫn đến giải thoát và giác ngộ. Nếu lịch trình giảng huấn của Phật được mô tả như hành trình của mặt trời trong một ngày, thì thời A Hàm nằm vào lúc Thái Dương đã lên khá cao để có thể chiếu xuống vực sâu tối thẩm, sau khi chiếu trên đĩnh núi (Hoa Nghiêm) lúc rạng đông.(Nhật xuất tiên chiếu cao sơn, thứ chiếu u cốc). Đại ý, dù có ngu ngốc đến mức nào, chúng sinh cũng được chánh pháp soi rọi chỉ lối. Thế nhưng có người giải thích giai đoạn nầy dành cho kẻ ngu.

Sự lệch lạc nầy đáng ngạc nhiên. Đường Tam Tạng thỉnh kinh từ Tây Vực về cố quốc dịch đến 600 cuốn gồm rất nhiều kinh Pali.

Bộ Vi Diệu Pháp xuất hiện với tên A Tì Đạt Ma, phiên âm Abhidarma. Kỳ lạ nữa là kinh nầy có nêu lý thuyết duyên khởi, một lý thuyết duy nhất trong lịch sử tư tưởng xưa nay. Duyên khởi là tài liệu quý giá cho Long Thụ, sáng lập ngành đại thừa. Vị Đệ Nhị Phật nầy đã đưa ra các bộ luận về tánh không, trung đạo từ giáo lý ấy.

Cách nhận định nầy đã làm cho nhiều người xầm xì về Thích Minh Châu “đi học cho tốn công tốn của mà chỉ biết thêm về A Hàm, không dám rớ tới Hoa Nghiêm Bát Nhã”. Thích Minh Châu (xin bỏ qua những hệ lụy chính trị nếu có) đỗ tiến sĩ tại đại học Nalanda với luận án: so sánh hai bản Pali và Hán Văn của kinh A Hàm, một luận án khó khăn nhất trong lịch sử cận đại của viện. Những công trình dịch thuật từ Pali qua Việt Ngữ và những khảo luận khác tạo nên cơ hội nới rộng tầm nhìn xa hơn khung trời đại thừa, bù đắp những thiếu sót vì tham sân si, nhất là tránh thiên kiến về tiểu thừa nguyên thủy. Các sư Theravada cũng cố gắng làm công việc trên nhưng, theo nhận xét riêng, hiệu quả không bằng công sức của thầy đại thừa Minh Châu. Thích Giới Nghiêm đã dịch và chú giải một kinh quan trọng trong ngành tiểu thừa ở Tích Lan, Miến, Mên và Lào: Na Tiên là ghi ký cuộc thảo luận giữa vua Hy Lạp Milinda và tỳ kheo Nagasena.

Sự khác biệt Nam Bắc Tông đại khái như thế để anh nghiên cứu thêm. Nhưng chính yếu xin anh ghi nhận ý kiến của Ikeda Daihatsu, chủ tịch hội cư sĩ Nhật SGI: kinh điển PG có tính chất nhất thống (consistency) nhiều nhất so với các tôn giáo khác.  Như vừa nói, những dòng nầy chỉ có tính cách đặt vần đề, gợi ý để anh tự  tìm thêm; chứ sức tôi tới đó là cùng rổi.

Tiện thể tôi xin nêu vài điểm quan trọng, theo tôi dĩ nhiên, cho viêc học hỏi của tôi:

Thứ nhất, mất cả một đời người chưa học hết kinh điển nhưng chỉ cần năm phút để tóm lược tinh túy của PG: cứu độ và giải thoát, Phật tính bẩm sinh, luật nhân quả chi phối vạn pháp (nội tâm và ngoại cảnh); tâm là đầu mối thiện ác.

Thứ hai, đừng so sánh PG với khoa học, đừng gọi Phật là nhà khoa học vĩ đại hay bé tí. “Như Lai quảng diễn kinh điển độ thoát chúng sinh, khi chỉ sự mình khi chỉ sự người, khi chỉ thân mình, khi chỉ thân ngươi”. Những sự ấy dùng trong mục đích giáo huấn. Khoa học gia tìm ra tính chất khoa học là chuyện của họ. Cuốn The Tao of Physic của Capra cho thấy trực giác huyền nhiệm của Đông Phương đã ảnh hưởng sâu đậm các vật lý gia hiện đại như Niel Bohr, Albert Einstein … nhưng đừng vì vậy mà quên mục đích chính là rút ba mũi tên độc tham sân si, cũng không nên dùng khoa học để tô son điểm phấn cho PG, để tranh hơn thua. Hãy để tự nhiên cho khoa học, tôn giáo, triết lý nghệ thuật gặp nhau ở nơi chúng xuất phát, cái uyên nguyên của vũ trụ càn khôn, cũng là cái tâm diệu vợi nơi vạn hữu; cho nên không cần can thiệp vội vã.

Thứ ba, khi mang một điều gì, một chữ, một trang, một cuốn kinh cho người khác, mình phải hiểu người nhận sẽ là thầy của mình, sẽ độ mình. Thà không biết còn hơn biết để ngông nghênh muốn hơn đời. Người nhận chưa có cơ duyên để biết tài sản tiền bạc tiềm ẩn của mình. Vật đưa chỉ là chìa khóa nhỏ mà người đưa tạm giữ. Giống hệt như bưu điện không phải là kẻ làm ra những gì chứa bên gói hàng. Biết và hành sự khiêm tốn ấy tức là mình bỏ bớt tính cách Phật giáo, cắt bớt những góc cạnh nhọn, như oan oan buông xả, diệt dục, ngồi bán già kiết già trước một đám đông chưa biết ngồi xếp bằng thông thường. Trước khi học (trước khi giác ngộ), gánh nước; sau khi giác ngộ gánh nước. Tôi chỉ điểm cho vài người về một đôi điều; sau đó họ đam mê học hỏi tôi phải đến nhờ cậy, đưa cho đọc những cuốn sách mình nuốt không được để thỉnh ý về sau. Điểm nầy dựa vào lời khuyên “mặc áo Như Lai, là khiêm tốn”.

ttt

xuất xứ đâyWeb Page Name

* Từ Jerusalem đến RomeWeb Page Name

Về Đầu Trang
Trình bày bài viết theo thời gian:   
Gửi bài mới   Trả lời chủ đề này    TRUNG HỌC DUY TÂN - PHAN RANG -> Tôn Giáo Thời gian được tính theo giờ EST (U.S./Canada)
Trang 1 trong tổng số 1 trang



 
Chuyển đến 
Bạn không có quyền gửi bài viết
Bạn không có quyền trả lời bài viết
Bạn không có quyền sửa chữa bài viết của bạn
Bạn không có quyền xóa bài viết của bạn
Bạn không có quyền tham gia bầu chọn


    
Powered by phpBB © 2001, 2005 phpBB Group
Diễn Đàn Trung Học Duy Tân