TRUNG HỌC DUY TÂN - PHAN RANG TRUNG HỌC DUY TÂN - PHAN RANG
Nơi gặp gỡ của các Cựu Giáo Sư và Cựu Học Sinh Phan Rang - Ninh Thuận
 
 Trang BìaTrang Bìa   Photo Albums   Trợ giúpTrợ giúp   Tìm kiếmTìm kiếm   Thành viênThành viên   NhómNhóm   Ghi danhGhi danh 
Kỷ Yếu  Mục Lục  Lý lịchLý lịch   Login để check tin nhắnLogin để check tin nhắn   Đăng NhậpĐăng Nhập 

tha thiết với quê nhà, Albert Camus

 
Gửi bài mới   Trả lời chủ đề này    TRUNG HỌC DUY TÂN - PHAN RANG -> TÌM HIỂU VĂN HỌC
Xem chủ đề cũ hơn :: Xem chủ đề mới hơn  
Người Post Đầu Thông điệp
tonthattue



Ngày tham gia: 17 Jul 2010
Số bài: 155
Đến từ: Georgia USA

Bài gửiGửi: Mon Oct 27, 2014 11:16 am    Tiêu đề: tha thiết với quê nhà, Albert Camus

Giữa bầu trời và các khuôn mặt hướng về bầu trời, không có chỗ nào để treo móc thần thoại,
văn chương, luân thường hay tôn giáo; mà chỉ có sỏi đá, da thịt, tinh tú và những chân lý tay
người có thể sờ mó được
.Albert Camus

tha thiết với quê nhà
CAMUS & ALGERIA: THE MORAL QUESTION
Claire Messud điểm sách Algerian Chronicles
tôn thất tuệ dịch

Vào một mùa Giáng Sinh trong thời gian tôi mới vào tuổi đôi mươi, mẹ tôi,
chị tôi và tôi đi lễ giữa khuya về thì thấy cha tôi, một người rất riêng rẻ và
xưa nay cương quyết không hành đạo, đang xem trên truyền hình Đức Thánh
Cha John Paul II làm lễ tại (thánh đường) St Peter, nước mắt rưng rưng. Ai
cũng ngạc nhiên và khó chịu khi thấy cảnh nầy cho nên tôi hỏi tại sao ông khóc.
Cha tôi nói: “Mới rồi bố nghe thánh lễ bằng tiếng La Tinh, bố nghĩ rằng
bố có một tôn giáo và một quê nhà”.

Cha tôi, giống như Albert Camus, là một “pied noir”, người Algérie gốc Pháp.
Trẻ hơn nhà văn tương lai nầy 18 tuổi, ông sinh trưởng ở Bab el-Oued, một
khu thợ thuyền không như Belcourt của Camus. Ở đây ít ai có tiền bạc nhưng
ông tôi là một sĩ quan hải quân. Cha của Camus tử thương trong những ngày đầu
của Thế Chiến I khi đứa con trai mới lên một. Camus và người anh trai được nuôi
dưỡng bởi bà mẹ không biết chữ gần như điếc, bởi bà ngoại rất cứng cỏi và bởi
người cậu chuyên nghề làm thùng và hầu như câm.
Giống như Camus, cha tôi học trung học Bugeaud, ngồi chung lớp với Jacques Derrida
(ông hay nói: bố giỏi triết hơn hắn) và tiếp đó là trường luật. Năm 1952, cha tôi qua
Mỹ theo chương trình học bỗng Fulbright, danh sách học viên Pháp cho thấy ông là
người duy nhất ở Algérie. Rồi từ đó sống đời xa xứ, ở Pháp, Úc và Bắc Mỹ. Nhưng chắc
chắn lúc ông ra đi, không biết rằng trở về là điều không thể thực hiện.
Ông tôi, chỉ lớn hơn Camus tám tuổi, xuất thân từ một nơi nghèo hơn, Bida, khu tây
nam Algérie. Bà cố, một giáo viên tiểu học và con của một bồi bàn không biết chữ, một
mình nuôi nấng bốn đứa con. Đứa nhỏ nhất, ông tôi, giống như Camus, thừa hưởng hệ
thống giáo dục của Pháp dựa vào sức học, tìm đường ra khỏi cái nghèo khó tăm tối, bước
vào trường danh tiếng Polytechnique ở Paris, và sau đó gia nhập Hải Quân, làm sĩ quan
nhà nghề. Là một con chiên ngoan đạo và là một người yêu nước Pháp nồng nhiệt, ông
cũng ngưỡng mộ sinh quán Algérie. Thư từ giữa hai ông bà đầy thiết tha với quê cảnh,
nồng nàn như tình cảm dành cho nhau.
Không ai trong gia đình mở miệng nói một lời về Cuộc Chiến Algérie; mọi người đều kể
những chuyện trong hai thập niên 1930 và 40 vào thời cha tôi và cô bác còn nhỏ; những
gì xẩy ra về sau đều được giữ nguyên trong im lặng. 1955, ông tôi được bổ nhiệm qua
Rabat, Maroc; hai ông bà không còn sống ở Algérie nữa. Những năm cuối thập niên 1950,
cha tôi làm luận án tiến sĩ về Thổ Nhĩ Kỳ, tại trường Cận Đông Học, Harvard. Sau khi ông
qua đời, trong khối giấy tờ, luận văn, sách báo, tôi tìm thấy rất nhiều tài liệu về các sôi
động, xáo trộn ở Thổ và các nước chung quanh như Ai Cập, Liban, Syrie, Pakistan, Ấn,
Libie, nhưng không một chữ về quê nhà của ông. Theo như tôi hiểu, những giọt nước mắt
cô độc 25 năm trước, là cách diễn đạt duy nhất những xúc động dành cho thế sự quanh mình.

Ngày 5-7-2012, Algérie tổ chức mừng 50 năm độc lập khỏi nước Pháp. Cho đến khi
chết vì tai nạn xe cộ ở Sens  tháng giêng 1960, ở tuổi 46, hai năm rưởi trước hiệp
ước đình chiến Evian, Camus luôn là một khuôn mặt cho hai phía tả khuynh và hữu
khuynh xỉ vả mắng chửi; họ xem ông đồng thời vừa ngây ngô vừa cứng nhắc trong
hy vọng ráo riết có một giải pháp Algérie ôn hòa. Cuối 1958, Camus viết rằng mục
tiêu của ông là: “thực hiện cái tương lai duy nhất có thể chấp nhận: thứ tương lai
trong đó nước Pháp – luôn nhiệt tình ôm ấp truyền thống tự do – xử sự công bằng
đối với mọi cộng đồng ở Algérie, không bênh ai, không bỏ ai”.

Ngày 7-11-2013 đánh dấu Camus 100 tuổi. Nghệ sĩ kiêm luận sĩ của chúng ta – tác giả
L’Etranger, 1942, L’Homme Revolté, 1951 – còn nguyên trong sự ái mộ của độc giả.
Nhưng lập trường của ông về vấn đề Algérie gây nhiều tranh luận, trước và sau khi ông
chết.
Cuốn sách Algerian Chronicles mới xuất bản cho Camus một cơ hội trễ muộn để tự biện
minh trước công chúng nói tiếng Anh. Cuốn sách nầy nói lại tiếng nói công khai sau
cùng của ông về vấn đề nầy như nó được ghi trong ấn bản đầu tiên tháng 6-1958.
Việc phát hành nầy đánh dấu hai năm rưỡi im lặng của mọi người, cái im lặng mà
Kaplan (bĩnh bút ấn bản tiếng Anh) cho là đồng lõa với ươn hèn, mà gia đình tôi thì
gọi là hấp hối. Im lặng ấy vẫn còn tiếp tục ngự trị.
Cuốn sách không được chào đón nồng hậu vì nó ra đời theo sát chân tác phẩm của
Henry Alley: La Question mô tả linh động việc tác giả bị tra tấn trong nhà tù Barberousse
ở thủ đô, nhanh chóng thành best seller và bị chính quyền Pháp tịch thu. Cuốn sách nầy,
và các cuộc tranh luận do nó gây ra, đã ảnh hưởng mạnh mẽ trên dư luận Pháp; do đó
không thể bỏ qua, hay không ngó ngàng đến các sự kiện liên quan đến tra tấn bởi quân
lính Pháp.
Một năm sau La Question, cuốn La Gangrene đăng tải bảy tập tường trình của bảy nhà trí
thức và sinh viên trẻ Algérie bị tra tấn bởi chính quyền Pháp tại Paris. Cuốn nầy cũng như
cuốn của Alleg nhanh chóng bị trừ khử ở Pháp. Nó được dịch qua tiếng Anh bởi Robert
Silvers, bĩnh bút tờ The New York Review of Books. Nhà xuất bản Lyle Stuart đã giới
thiệu trên bìa sách như sau: Những cuộc tra tấn nầy không xẩy ra trên con đường hẻo
ánh của một ngôi làng quê góc núi. Chúng xẩy ra ngay trong trung tâm của Paris, xẩy
ra tám tháng sau khi de Gaulle cầm quyền, và xẩy ra trên dưới 100 mét cách Điện Elysée”.

Camus không còn là phát ngôn viên cho đề mục nầy: lúc trẻ, Camus đã tiên phong làm
cho quần chúng chú ý đến các khổ đau của người Algérie địa phương. Nhưng trong thập
niên 1950 người ta tin rằng ông đã xa lìa, không nắm vững các thực tại của quê nhà. Chẳng
phải vì không còn chú ý hay không cỏn dấn thân mà vì quan niệm tổng quát cho rằng
Algérie không thể là Algérie tách ngoài nước Pháp về mọi mặt. Trong thời gian xẩy ra các sự
tàn ác của hai phe, nhiều người quanh Camus ghi nhận sự tất yếu một nước Algérie độc lập.
Khi ông giáo thương yêu nhất và là người đỡ đầu của Camus, Jean Grenier, nói rằng Pháp
phải bỏ thuộc địa nầy, tác giả cương quyết phát biểu: “Không thể được, nước Pháp không
bao giờ có thể quẳng ra biển một triệu hai trăm ngàn người Pháp”.

Algerian Chronicles qui tập các bài viết về Algérie của Camus trong 20 năm
qua; từ khi khởi sự tường trình sự nghèo khổ ở vủng Kabylia cho tờ báo Alger
Républicain tháng 6 năm 1939 cho đến lời kêu gọi năm 1956 một cuộc ngưng
chiến dân sự mà ông đã nêu lên lần đầu trong một cột báo của L’Express và
sau đó trình bày với công chúng Algiers trong những cuộc nhóm họp hổn loạn
và tai hại trong ngày 22 tháng Giêng cùng năm. Tuyển tập nầy được hoàn
tất với lời tựa của chính tác giả năm 1958 cùng các phụ bản làm sáng tỏ các
vấn đề liên quan.
Độc giả, sau khi duyệt xem tuần tự các nhận định, những lập luận, sẽ thấy nơi
Camus một sự tin tưởng luân lý không thay đổi, một cái nhìn lạc quan, một
biệt tài theo sát các nguyên tắc công lý của chính ông, ngay cả trong những
lúc mọi người nhảy vào cuộc tranh luận với nhiều cảm tính gây hổn loạn. Lập
trường của ông về Algérie trong thập niên 1950 không những chỉ nẩy mầm
từ các bài tường thuật ở Kabylia mà còn tử những bài viết năm 1939 cho tờ
Alger Républicain trình bày các lập trường triết lý và khuynh hướng hòa bình.
Trong bức thư không niêm 1948 gởi Emmanuel d’Astier (ký giả, chính khách),
ông viết: “Tôi chỉ nói ngắn gọn chúng ta phải từ bỏ việc cho bạo động tính chất
chính đáng, dù vì lý do tồn vong chính trị, hay vì triết lý độc tài. Bạo động không
thể biện minh”.
Những lời trên không xa khác với lời tựa 1958, trong đó ông lưu ý người Pháp
“chúng ta phải từ chối biện minh cho những phương pháp ấy (tra tấn và đàn áp)
với bất cứ lý do gì, cho dù nhân danh sự cần thiết, sự hữu hiệu. Một khi có người
biện minh dù gián tiếp thì mọi lề lối và giá trị đều bị đánh đổ. Ông cũng nói với Mặt
Trận FLN (MT) rằng dù bảo vệ bất cứ thứ chính nghĩa nào mà tấn công bừa bãi các
đám người vô tội, thì cả hai phe đều sẽ bị kết án.
Đồng thời ông cũng mắng mỏ những nhà trí thức xa lông (ngầm hiểu Jean Paul
Sartre) đứng ngoài xa ủng hộ bạo động khủng bố: Mỗi bên đều biện minh hành
động của mình bằng cách nêu tội ác của bên kia. Đây là ngụy biện tồi tệ bằng máu
mà theo tôi các nhà trí thức không được dùng tới”.
Chính sự trong sáng luân lý nầy đã làm Camus vỡ mộng đối với Cọng Sản và đẩy
mạnh ông trong việc chống đối án tử hình. Nhiều lần Camus đã lên tiếng bảo vệ
mạng sống của những người hợp tác với Nazis và các người khủng bố của MT.
Không có gì thay đổi nơi Camus nhưng tình hình Algérie thay đổi. Chuyến đi 1939
viếng thăm Kabylia –vùng phía bắc của dân Berbers – phơi bày cho ông thấy nạn
đói kém và sự bại hoại trước đó không ai tưởng tượng ra. Giống Chekhov viếng
thăm Shakhalin, ông bị chấn động sâu xa bởi cảnh khổ mà ông chứng kiến. Những
bài báo thiết tha của ông đầy những sự kiện: một gia đình tám người cần 120 ký bột
mì mỗi tháng nhưng tháng qua họ chỉ kiếm được 10 ký. Ông cũng đưa ra các để nghị
cấp tiến: hủy bỏ rào cản nhân tạo giữa trường Âu Châu và trường địa phương; phải
xây thêm nhiều trường nữa.
Đáp lại, chính quyền không thay đổi gì mà còn đóng cửa tờ báo, trục xuất Camus khỏi
Algérie để lưu trú ở Paris từ tháng 3 năm 1940.

Camus lại có dịp quay mắt nhà báo về các vấn đề của sinh quán, theo dõi trên tờ Combat
(báo Kháng Chiến) cuộc nổi dậy ở Setif ngày 8 thg 5, 1945, đánh dấu mốc đầu tiên Chiến
Tranh Algérie (tuy nhiên không có thêm bạo động cho đến 1954). Như Alistair Horne viết
trong A Savage War of Peace, trong vòng năm ngày, ở Setif và phụ cận, 103 người Âu châu
bị sát hại, 100 người khác bị thương: “nhiều xác chết bị dập nát; đàn bà bị cắt vú, đàn ông
bị cắt bộ phận sinh dục nhét vào miệng”.
Nhưng việc trả đủa và đàn áp của quân lính Pháp đã đưa con số nạn nhân từ 1.300 đến
45.000 người. Nhà thơ Kateb Yacine nói ông không bao giờ quên cuộc chém giết dã man
hằng ngàn người Muslim; từ lúc ấy 16 tuổi, ông đã ý thức một chủ nghĩa quốc gia hình
thành trong đầu óc.
Tại nước Pháp, báo chí không đề cập các chi tiết thuộc các biến động nầy. Nhưng Camus
đã để riêng mục Khủng Hoảng Algérie để viết về vùng sôi động nầy. Một lần nữa, ông tả
lại cảnh nghèo đói, tình trạng kinh tế suy bại để hậu thuẩn cho việc người xứ thuộc địa
đòi hỏi tự do; ông nêu rõ rằng nhiều người Algérie đã chiến đấu cho nước Pháp, ông tố
giác Pháp không làm gì để thực hiện mục tiêu dài hạn của chính phủ là hội nhập và cấp
quyền công dân cho mọi người Arab tại Algérie; phải thay đổi kịp thời trước khi mất thời
cơ và không nắm được tình thế.
Camus kết thúc loạt bài bằng cách ủng hộ lãnh tụ ôn hòa Ferhat Abbas và đảng Union
Démocratique du Manifeste Algérien chủ xướng hiến pháp và quốc hội; đồng thời Camus
nhấn mạnh đến sự cần thiết của công lý, « khắp nơi trên giới, không riêng gì ở Bắc Phi,
nếu không có công lý thì không có cái gì mang tĩnh từ ‘francais’»  
Khoảng giữa 1945 -54, dân chúng Arab ngày càng đòi hỏi những điều quá khích, đi theo
chiều hướng cách mạng, đòi độc lập. Điều đáng nói, trong khoảng thời gian nầy,
Camus – chán ngấy chủ thuyết Staline – viết cuốn L’Homme Revolté, trong đó ông đòi
suy xét lại các ý kiến thành khuôn về cách mạng (cả cách mạng Pháp) và ông nhận định
rằng các cuộc cách mạng thời nay đều đem lại các chính thể tập quyền độc hại.
Camus nói với một lãnh tụ MT: người ta nói với tôi và anh rằng thời buổi tương nhượng
đã qua, bây giờ mục tiêu là phát động chiến tranh để mà thắng; nhưng cả hai bên,
không ai là kẻ thắng.
Lúc nầy là đầu năm 1955, cái nhìn màu hồng đẹp tươi và bền bỉ ấy đã đưa Camus đến
một ngõ rẻ, xa cách với thực tế. Ông cho là ấu trỉ bất cứ ai tin Pháp sẽ bất thần tiêu ma,
ông tiếp tục tin không ai thắng ai bại. Giữa lúc ấy MT quyết định giành độc lập bằng mọi
phương tiện cần thiết. Tháng 9-1956 MT bắt đầu đường lối chính thức tấn công thường
dân. Bom nổ khắp thị thành.
Trong lúc ấy, người gốc Pháp, pied noir, được phép mang vũ khí, do đó mức độ sợ hãi và
bạo động gia tăng. Cuối 1956 khủng bố hữu khuynh khởi động với sự ủng hộ của quân đội
và nhóm hành động (nhóm nầy về sau thành lập Tổ Chức Quân Đội Bí Mật). Tháng Giêng
1957, tướng Massu kiểm soát thủ phủ Algiers với thẩm quyền quân sự không giới hạn mới
được giao phó. Tra tấn người Algérie và Âu Châu bất đồng chánh kiển xẩy ra liền liền; và
bên phía MT cũng tra tấn không kém.
Tình hình Algérie đã thành vô vọng, vào lúc Camus, như một hành động công khai cuối cùng,
đưa ra lởi kêu gọi đơn giản và tâm huyết, để nghị một sự hưu chiến dân sự cuối tháng giêng:
Chúng ta muốn gì? Chúng ta muốn phong trào Ả Rập và chính quyền Pháp cùng lúc tuyên bố
rằng cho dù các biến động còn tiếp diễn, thường dân lúc nào cũng được tôn trọng và bảo vệ;
hai bên không cần phải gặp gỡ nhau hay làm một điều chi khác, chỉ cần nói như vậy và
làm theo.
Lời yêu cầu nầy được đón nhận trong sự lãnh đạm của hai bên; tiếp theo sự thất bại nầy,
mọi lời tuyên bố công khai đều không được ông ủng hộ. Nhà văn Tunisie gốc Do Thái Albert
Memmi viết cuối 1957:
Camus bị ép buộc phải im tiếng, bởi vì mọi điều liên quan đến Bắc Phi đều làm ông tê liệt. nhưng
phải hiểu rằng ông ở trong hoàn cảnh khó khăn; cả trên hai phương diện trí thức và tình cảm,
dễ gì đưa mọi người trong cùng gia đình đứng về một phía đang bị luân lý kết tội.

Và từ một cái nhìn đương thời, Robert Zatetsky (người viết tiểu sử Camus) đã hùng hồn nhận xét:
Sự im lặng của Camus trước cuộc chiến tàn phá Algerie – sinh quán và nguồn xuất phát hầu hết
các hình ảnh địa giới đẹp đẽ nhất của Camus – không phá vỡ những giới hạn và giá trị của luân
thường, luân lý. Thật vậy, nó xuất phát từ nhận chân của ông rằng cả hai phía trong cuộc tương
tranh nầy đều có người bị ô nhục khốn khổ: đại đa số ngưới pieds noirs và người Ả rập.
Sự chân thành và sự nhất quyết của Camus duy trì sự trong suốt luân lý ít ai có. Ông thấy rằng “thời
đại chủ nghĩa thuộc địa đã cáo chung” nhưng ông cảm nhận rằng “vấn đề duy nhất bây giờ là nêu rõ
các giải pháp rõ rệt và thích ứng. Trong trường hợp nầy là đường lối ôn hòa: công nhận quyền của
mọi thành phần trong xã hội, gồm cộng đồng của riêng ông.

Nhưng nhìn quanh, bạn bè, người quen biết v.v…đều giả dối và mưu toan. Ngồi an toàn yên ổn dưới các
mái che của các quán café Paris, Sartre và Simone de Beauvois ca ngợi hoan hô MT như họ đã hoan
hô Staline. Raymond Aron thì xét cuộc khủng hoảng bằng bài phân tích kinh tế so sánh mức lợi và
chi phí; thuộc địa Algerie không khả dụng về tài chánh cho nên Pháp phải bỏ đi. Chính quyền quân
sự và dân sự đã làm thương tổn danh dự của Pháp vì tra tấn và bạo động. Camus đã gặp De Gaulle
thg 3-1958, hai tháng trước khi ông khổng lồ chấp chánh đề nghị cho mọi người Algérie có quyền công
dân Pháp, ông tướng mỉa mai: được, chúng ta sẽ có năm mươi thằng mọi trong Hạ Viện”.
Tuy nhiên trong thực tế, lời kêu gọi hưu chiến của Camus không hoàn toàn bị lãng quên.
[Nhà văn và nhân chủng học Germaine Trillons, giống như Camus, đã sống trong những năm 1930
với thổ dân trong vùng núi Aures, khi làm luận văn tiến sĩ]. 1954, bộ trưởng nội vụ Francois
Mitterand phái bà trở lại Algérie để quan sát tình hình. Bà đã đệ nạp một bản tường trình về các
điều kiện sinh sống của người Muslim, trong cùng một viễn quan với Camus. 18 tháng sau
lời kêu gọi của Camus, 6-1957, bà Trillons gặp kín thủ lãnh MT Saadi Yacef. Sau bốn giờ thảo
luận, bà trở về với sứ mệnh để nghị chính phủ Pháp chấp thuận một cuộc hưu chiến
dân sự song phương.
Để tỏ thiện chí, Yacef đồng ý rằng MT sẽ không tạo ra tử vong, thiệt hại cho thường dân
trong một tháng. Trillons hội đàm với De Gaulle và với chính phủ. Tuy kết quả không đi đến đâu,
Trillons vẫn cố trở lại gặp Yacef vào tháng tám, để thêm một lần nữa không có gì trong tay,
mà còn bị Yacef trách móc: “Tôi không biết chuyện nhà của bà ra sao; nhưng tôi tin lý trí sẽ
được đem ra sử dụng, nhưng chúng tôi đã thất vọng”.
Ký giả Jean Daniel, cũng là người Pied Noir, vào cuối thập niên 1950, đã không đồng quan
điểm với Camus về số phận của Algérie. Trái với Camus, Daniel chấp nhận thương thuyết với
MT và kêu gọi độc lập. Khi nghe Daniel nói độc lập của Algérie là điều không tránh được, Camus
đã trả lời:
Đối với một ký giả, kể cả ký giả dấn thân, hay đối với nhà trí thức, điều đó có thể mang ý nghĩa
gì? Bạn lấy quyền gì mà định một hướng đi cho lịch sử? Mấy chữ không tránh đượcchỉ dành cho
những kẻ bàn quan tự trốn trong sự bất lực của chính mình, đánh mất sự hình thành những ước
vọng.
Daniel giải thích vì sao Camus vẫn khư khư giữ lập trường cố hữu, nó được xây dựng trên hai
mấu chốt căn bản: một bên là sự nghèo khổ, bên kia là sự kinh hãi. Việc Camus bài bác bạo động
một cách ráo riết có thể tìm thấy dễ dàng trong những điều ông nói và viết về Algérie. Trước sinh
viên Algérie du học ở Thụy Điển, ông nói: “Giờ nầy, người ta đặt bom trên tàu điện ở thủ phủ
Algiers, rất có thể mẹ tôi là một hành khách trên tàu; nói chi thì nói, tôi không muốn mẹ tôi chết”.
Cảm thông sâu sắc sự khổ đau, không nơi nào, không một lúc nào ông chấp nhận bạo động; tháng
11-1945 ông đã viết trong lưu ký: “Tôi sinh ra không phải để làm chính trị, bởi lẽ tôi không đủ khả
năng muốn hay chấp nhận cái chết của đối phương”.

Daniel nói thêm một điều khá quan trọng: như bất cứ ai có gốc gác thấp kém về xã hội, Camus không
thể tự xem mình là người thừa hưởng lịch sử lâu dài của sự áp bức thực dân; ông bị khinh bạc, bị áp
bức, bị khai thác như những những kẻ nghèo hèn khác.
Đây tôi nói thêm rộng ra một chút. Giống như ông nội tôi, Camus, một đứa trẻ mồ côi cha và nghèo
khó, được nằm trong sự nâng đỡ của các bậc trưởng thượng, các vị thầy giáo. Trước tiên thầy dạy
đệ nhất cấp, Louis Germain (thúc dục bà ngoại của ông cho thằng bé đi học đệ nhị cấp, chứ đừng cho
nó đi làm) rồi đến thầy dạy đệ nhị cấp Jean Grenier mà ông mang ơn suốt đời và đã đề tặng cuốn sách
đầu tiên L’Envers et l’Endroit và cuốn L’Homme Revolté.
Qua các vị thầy ấy, chính nước Pháp đã đưa những kẻ thấp hèn nhất khỏi sự nghèo khó, và cung cấp
cho họ mọi cơ hội tiến thân. Đối với ông tôi, đối nghịch với người phản kháng (l’homme revolté),
không có gì thắc mắc, nghi vấn, Cọng Hòa Pháp là một người cha. Gia nhập Hải Quân, ông tôi phục
vụ cha một cách trung thành. Nhưng Camus, vì là một đứa con phản kháng, đã trở thành một đứa
con nhiều đam mê của nước Pháp. Trong cuốn The Burden of Responsibility, Tony Judt đã mô tả “hơi
văn” của Camus một cách đẹp đẽ: Ông đã phối hợp hòa chung cái nhìn truyền thống và lãng mạn về
nước Pháp cũng như những khả thể của quốc gia nầy với uy tín trong sạch của chính mình. Việc lý
tưởng hóa nước Pháp của Camus có thể có chỗ sai nhưng ý hướng của ông bao giờ cũng cao quý.
Daniel lập luận rằng cả hai người Trillons và Camus đều tin chắc bạn không thể gạt bỏ một điều có
thể xẩy ra là xóa các tội thuộc địa bằng sự hối lỗi chân thành và bằng sự sửa chữa đầy đủ và rộng lớn.
Daniel dùng thuật ngữ tội và xóa tội cũng đúng đấy chứ. Trong khi ông tôi suốt đời là con chiêu ngoan
đạo nhiệt thành thì Camus là một kẻ vô thần thiên chúa. Ông khước từ tôn giáo nhưng ông được hình
thành, nuôi dưỡng trong tinh thần của tôn giáo. Luận văn đại học của Camus chuyên nghiên cứu về
thánh Augustine và Plotinus. Những sự dấn thân của ông ở bề sâu vẫn mang tính chất thần học. Camus
không loại bỏ các giá trị của Thiên Chúa Giáo; bằng chứng, trong cuộc gặp mặt có Koestler, Sartre,
Malraux và Manes Sperber, ông đã nói rằng nếu những ai đã theo chủ thuyết của Nietzche, chủ
thuyết hư vô, chủ thuyết thực tế lịch sử nay nhận mình sai lạc trước công chúng và xác nhận sự cần
thiết của những giá trị luân lý; nếu được như vậy mới có chút hy vọng..
Với Camus, nếu Pháp là cha thì Algérie là mẹ; và đứa con ngưỡng mộ cha mẹ nầy không bao giờ
mong muốn có sự ly dị. Trong các luận văn hay tiểu thuyết, ông thường nói lên tính chất song đôi
của tinh thần mình. “Địa Trung Hải đã tách riêng hai thế giới trong tôi. Một thế giới lưu giữ mọi ký
ức của tôi và một thế giới nơi cát và gió xóa mọi dấu tích của con người. Camus nhận được một trong
những tài nguyên trong đời từ thế giới trần tục, không chữ nghĩa, không biên giới (thế giới của người
mẹ mù chữ và gần như câm). “Tôi khôn lớn lên với biển; và sự nghèo khó đối với tôi rất quí giá; rồi
tôi mất biển và tôi nhận thấy sang trọng là điều chán nản, đồng thời nghèo khó là điều không chịu
đựng được”. Trong bài ca ngợi sinh quán Mùa Hè Ở Algiers, ông viết:
Giữa bầu trời và các khuôn mặt hướng về bầu trời, không có chỗ nào để treo móc thần thoại, văn
chương, luân thường hay tôn giáo; mà chỉ có sỏi đá, da thịt, tinh tú và những chân lý tay người có
thể sờ mó được”.
Khá dễ nhận ra tầm quan trọng đúng mức của cảnh sắc vùng duyên hải Algérie trong đầu óc của
Camus: mặt trời, đá, và khí nóng. Chúng ta có thể hiểu rõ ràng hơn về lập trường của ông trong
vấn đề Algérie nhờ những tác dụng của nghèo đói, của lòng tri ân với nước Pháp và nhờ khía cạnh
nêu trên trong tâm tính của Camus. Sự cáo chung, sự giải thể của một Algérie thuộc Pháp không
những chỉ đánh mất tuổi thanh xuân mà còn nguy hại cướp mất nguồn hứng khởi sáng tạo và lòng
vui sướng của ông.
Khi xuất bản ở Pháp cuốn L’Envers et l’Endroit năm 1958, Camus đã giải thích trong lời tựa như
sau:
Mọi nghệ sĩ đều giữ trong người một nguồn duy nhất nuôi dưỡng sự hiện diện và lời nói của mình.
Khi suối lạch ấy khô nước, dần dà từ từ, công việc, sức sáng tạo co lại trước khi bể nát. Suối
nguồn của tôi (trong những luận văn nầy) là …thế giới của nghèo khổ, của ánh sáng mặt trời, tôi
đã sống rất lâu trong thế giới ấy.

Vào lúc ông viết những dòng nầy, Camus đã khởi soạn cuốn Le Premier homme, tác phẩm cuối
cùng chưa hoàn tất; bản thảo được tìm thấy trong gầm xe Facel Vega dẹp lép sau khi ông chết.
Đó là cuốn tiểu thuyết không giống những cuốn trước, xây dựng trên “đá, da thịt, tinh tú và
những chân lý tay người có thể sờ mó được”.

Và đây là lần khác trở về với suối nguồn:
Vâng, tối nay, trong tâm tư hắn, vâng, mớ rễ khuất chìm quện vào nhau xiết chặt hắn vào
vùng đất đầy sợ hãi và tuyệt vời ấy, xiết vào những ngày nắng cháy, vào những buổi hoàng
hôn qua nhanh một cách đau đớn; thật giống một đời sống thứ hai, nhưng có thật hơn tất
cả bộ mặt hằng ngày của cuộc đời bên ngoài. Về cuộc đời đó, cuộc đời thứ hai, có thể kể
tràng giang những mơ ước thầm kín, những cảm giác mạnh mẽ khó tả, mùi hương của trường
học, mùi nặc nồng của các chuồng trại trong làng, mùi mồ hôi áo quần trong tay mẹ đem đi
giặc, mùi của hoa lài, hoa kèn xóm trên, mùi những trang sách, những cuốn từ điển mà hắn
ngấu nghiến, mùi chua phát ra từ phòng vệ sinh trong nhà hay từ tiệm hàng sắt, hương
thoảng của những phòng học rộng và lạnh mà hắn đôi lần qua lại trước hay sau giờ học;
hơi ấm của bạn thân, mùi len ấm và mùi phẩn dơ mà thằng Didier luôn đeo theo mình;
mùi nước hoa mà mẹ thằng bự Marconi tẩm lên người như tưới, đến độ thằng Jacques ở
góc kia mà muốn tới ngồi gẩn…. Vâng, (đó là) sự chờ mong, ước mong được sống và sống
nhiều hơn đã đẩy hắn trẩm mình trong cái ấm áp to lớn nhất mà cái quê nhà nầy có thể
đem lại; lúc ấy hắn chưa nhận kịp rằng đó là những gì hắn đã hy vọng từ nơi tay mẹ.

Không một kẻ “thành thị mất gốc” nào (cái tên Tony Judt đặt sai cho Camus) có thể gợi
các cảm xúc tận đáy lòng về một quê nhà với một nỗi hoài niệm đam mê như thế. Phần
lớn cuộc đời, Camus sống xa xứ; ý nghĩa của sự lưu đày là một tụ điểm chính trong viễn
quan của ông. Trí thức và tâm thức của ông đứng hai chân trên hai nền văn hóa của Pháp
và Algérie. Nhưng ông không có gì là “mất gốc”. Ông biết một cách tuyệt đối quê nhà ra
sao, quê nhà ở đâu; ông biết quê nhà mang ý nghĩa gì trên đời ông. Từ năm 1930 Camus
đã thừa nhận những đòi hỏi luân lý của thổ dân và công khai đòi hỏi thỏa mãn những đòi
hỏi ấy. Nhưng lòng thiết tha công lý ấy không cho phép bỏ rơi những người khác: ông cố đề
nghị một giải pháp khả dĩ bảo vệ quyền của mọi người Algérie. Thất bại, ông phải giữ
im lặng.

Khi cha tôi chết – ông cũng là một người ly hương cho đến phút chót – ông để lại một thư viện
kếch xù; hằng ngàn cuốn sách thâu tóm trong suốt cuộc đời, để nhiều nơi khác nhau. Những
cuốn sách trong thời trung niên được cất giữ hai mươi năm trong bốn mươi thùng bìa giấy để
trong cái hầm xi măng bên Highway 401, Napanee, Ontario: ấn bản đầu tiên tác phẩm của
Ionesco, của Max Jacob, bản tiếng Pháp các tác phẩm cổ điển, lịch sử Trung Đông. Trong khối
giấy ấy, tôi tìm ra cuốn Noces – xem như một thư tình nồng nàn gởi cho quê nhà – một trong
225 bản của nhà in Edmond Charlot, Algériers 1939. Cha tôi đã bảo tôi đi tìm mà đọc; nay mới
thấy, khi ông đã qua đời.
Cha tôi có đủ các tác phẩm của Camus, nhưng suốt đời ông ôm giữ tập sách mỏng nầy, nó chất
chứa rất nhiều xúc động, tha thiết và đam mê.
Noces có luận văn “Đám cưới ở Tipasa” sống động và đầy cảm xúc; kể lại một ngày viếng thăm
phố xưa Tipisa tàn phế của thời La Mã trên bờ biển bắc của Algérie; trong đó, tác giả đã đeo đẳng
miệt mài những khoái lạc hầu như khoái lạc thể xác gợi lên bởi vẽ đẹp thiên nhiên quanh người.
“Từ chỗ nầy, tôi biết cái gì gọi là vinh quang: (đó là) quyền yêu thương không giới hạn. Chỉ có
một tình yêu trên thế giới nầy. Ôm ấp thân xác một thiếu nữ chẳng khác chi ôm vào lòng niềm
hân hoan, niềm vui sướng từ trên trời tuôn xuống biển”.
Cuốn sách bìa cũ mỏng đã được đóng lại khá đẹp; khi bắt gặp nó tôi cũng tìm gặp luôn một cuốn
sách khác, một tạp chí thì đúng hơn, La Nouvelle Revue Francaise số tháng hai 1960, còn nguyên
chưa rọc, trừ một hay hai trang có in lời khen tặng vội vã người mới qua đời tháng trước. Không
ngạc nhiên, sự ngay thẳng của ông – sự ngay thẳng chan hòa với khiêm nhường – đã làm cho tòa
soạn hạ bút:
Mọi người đã tìm thấy nơi Camus – cũng như Saint-Exupéry – một nhà văn vừa là một người dẫn
đường. Nhưng ông không nhận và trả lời: hằng ngày tôi còn tập đi cho vững, làm sao chỉ đường
cho ai!?-- theo bản tiếng Anh trên "The New York Review of Books", July 2913

Bài nầy đã đăng trên trang nhà mục "Albert Camus"Web Page Name
Về Đầu Trang
Trình bày bài viết theo thời gian:   
Gửi bài mới   Trả lời chủ đề này    TRUNG HỌC DUY TÂN - PHAN RANG -> TÌM HIỂU VĂN HỌC Thời gian được tính theo giờ EST (U.S./Canada)
Trang 1 trong tổng số 1 trang



 
Chuyển đến 
Bạn không có quyền gửi bài viết
Bạn không có quyền trả lời bài viết
Bạn không có quyền sửa chữa bài viết của bạn
Bạn không có quyền xóa bài viết của bạn
Bạn không có quyền tham gia bầu chọn


    
Powered by phpBB © 2001, 2005 phpBB Group
Diễn Đàn Trung Học Duy Tân