TRUNG HỌC DUY TÂN - PHAN RANG TRUNG HỌC DUY TÂN - PHAN RANG
Nơi gặp gỡ của các Cựu Giáo Sư và Cựu Học Sinh Phan Rang - Ninh Thuận
 
 Trang BìaTrang Bìa   Photo Albums   Trợ giúpTrợ giúp   Tìm kiếmTìm kiếm   Thành viênThành viên   NhómNhóm   Ghi danhGhi danh 
Kỷ Yếu  Mục Lục  Lý lịchLý lịch   Login để check tin nhắnLogin để check tin nhắn   Đăng NhậpĐăng Nhập 

TÂM HỒN CAO THƯỢNG

 
Gửi bài mới   Trả lời chủ đề này    TRUNG HỌC DUY TÂN - PHAN RANG -> Truyện Dài
Xem chủ đề cũ hơn :: Xem chủ đề mới hơn  
Người Post Đầu Thông điệp
Dư khánh



Ngày tham gia: 24 Oct 2007
Số bài: 433

Bài gửiGửi: Mon May 01, 2017 10:31 pm    Tiêu đề: TÂM HỒN CAO THƯỢNG
Tác Giả: Dịch giả: HÀ-MAI-ANH

TÂM HỒN CAO THƯỢNG


Tác giả: EDMOND DE AMICIS
Dịch giả: HÀ-MAI-ANH

TÂM-HỒN CAO-THƯỢNG dịch ở cuốn Grand coeurs (Cuore) ra. Cuốn tiểu-thuyết có giá-trị nầy nguyên của EDMOND DE AMACIS, triết-học Ý (1846-1908) do nhà văn Piazzi dịch sang Pháp-văn.

Truyện này là một loại sách “giáo-dục bằng tình-cảm” có sức cảm-hóa lạ thường nên đã được dịch ra bằng 14 thứ tiếng và được giới thanh-niên học-sinh ham đọc.

Đó là một thiên ký-sự mô-tả đời sống một học-sinh 11 tuổi ở trong gia-đình, trong học-đưòng và ngoài xã-hội. Qua những trang ký-sự nầy ta nhận thấy nào tình âu-yếm của cha mẹ, lòng hiếu-thảo của con, nào sự tận-tụy của thầy, tình thân-ái của bạn rất thành-thực và bao-la. Ngoài ra nhiều tiểu-truyện lại còn gợi lòng ái-quốc ái-quần một cách thiết-tha và nêu những gương hy-sinh rất cao-cả.

Truyện không cầu-kỳ mà thực, tình tuy chất-phác nhưng thành, lời-lẽ cảm-xúc và hùng-tráng, cử-chỉ đầy nhân-ái hào-hiệp nên ảnh-hưởng dễ khiến cho những bạn đọc qua sách này, phong-độ thêm thanh quí và tâm-hồn thêm cao-thượng hơn.

Nam-Định, ngày 15 tháng 4 năm 1952

Dịch giả

HÀ-MAI-ANH





THÁNG MƯỜI

1.- NGÀY KHAI TRƯỜNG

Tại thành Tuy-Ranh (1), thứ hai, ngày 17

Hôm nay là ngày khai-trường. Mấy tháng hè đã thoáng qua như giấc mộng. Sáng nay, mẹ tôi đưa tôi vào trường Ba-lệ-Tư để ghi tên lên lớp ba. Đi đường, óc tôi cứ vơ-vẩn đến chốn nhà quê, lấy sự đi học làm ngại. Phố nào cũng thấy nhan-nhản học trò. Hai hiệu sách lớn chật ních những phụ-huynh vào mua sách vở, giấy, bút cặp da. Cửa trường đông-nghịt những người, cảnh-binh và người gác cổng phải khó-nhọc mới mở được một lối vào.

Vừa bước qua cổng trường thấy một bàn tay vỗ vào vai, tôi giật mình ngoảnh lại thì ra thày giáo lớp Tư tôi học năm ngoái, mái tóc đỏ-hoe vẫn để rối, nét mặt vẫn tươi, thày bảo tôi:

- An-Di ơi! Thày trò ta từ nay chia tay nhau nhỉ?

Điều ấy, tôi đã nghĩ đến, nay thày tôi lại nhắc, khiến tôi thêm trạnh lòng. Mẹ tôi và tôi phải chen-chúc mãi mới vào được trong trường. Các ông, các bà sang-trọng, các bà thường dân, thợ thuyền, sĩ-quan, các cụ già, những đầy tớ, ai nấy đều một tay dắt trẻ, một tay cắp gói, đứng chật phòng trú chân và ở trên thang gác. Cảnh-tượng rất là náo-nhiệt.

Hôm nay, lại được trông thấy bảy phòng học ở từng dưới là nơi ròng-rã ba năm trường, ngày nào tôi cũng lui tới, lòng tôi sung sướng vô cùng!

Trên thềm, các cô giáo đi lại tới tấp. Cô giáo lớp Năm (2) đứng ở cửa lớp, thấy tôi liền bảo:

- Em An ơi! Năm nay em học trên gác. Ít ra ta lại được nhìn em qua lại!

Mẹ tôi đỡ lời:

- Thưa cô, cháu sẽ đến thăm cô luôn.

Chúng tôi chào cô rồi đi.

Ông Hiệu-trưởng, râu tóc bạc hơn năm ngoái, có vẻ bận-rộn vội-vàng, đang bị vây trong đám các bà, một số người thất-vọng vì không còn chỗ cho con. Bạn tôi đi học đông đủ. Nhiều người coi lớn vọt lên. Ở từng dưới, việc dồn lớp đã xong. Mấy trò em mới đến trường là lần thứ nhất, không chịu vào lớp, giật lùi như những con ngựa bất-kham; người ta phải dùng sức lôi vào. Có em đã ngồi vào ghế rồi lại trốn ra, có em thấy cha mẹ về thì khóc tru lên.

Em trai tôi vào lớp cô Đan-cát-Tiên, còn tôi thì học thày Bích-Niên ở trên gác.

Đúng 10 giờ thì học trò lớp tôi đều vào cả; 54 người trong bọn, tôi nhận mãi mới thấy 15 hay 16 bạn lớp dưới mới lên. Trông thấy tôi, anh Đỗ-Sinh, người học trò bao giờ cũng chiếm phần thưởng thứ nhất, liền ra hiệu mừng rỡ.

So với rừng rậm và non xanh là những nơi tôi đã qua chơi mấy tuần lễ trước thì trường học coi bé nhỏ và buồn tênh!

Hết nhớ cảnh lại nhớ người. Tôi nhớ thày cũ tôi ở lớp Tư, một ông thày khoan-từ và vui vẻ, bao giờ trông thấy tôi cũng mỉm cười. Tôi rất tiếc không được thấy thày ở đây với bộ tóc hoe-đỏ rối-bù.

Thày giáo chúng tôi bây giờ, người to lớn, không có râu, tóc dài và xám, trên trán có một đường răn, tiếng nói sang-sảng. Đứng trên bục cao, thày nhìn xuống chòng-chọc hết người này đến người khác hình như muốn coi thấu tâm-tình chúng tôi. Thày nghiêm quá, ít khi thấy nở một nụ cười.

Tôi nghĩ bụng: “Hôm nay mới là ngày đầu, còn mười tháng nữa mới đến nghỉ hè. Trong mười tháng ấy sẽ có biết bao nhiêu là việc làm, bao nhiêu là bài làm và bao nhiêu là sự khó-nhọc đang chờ ta! ”, nên lúc ra về tôi có vẻ chán-nản. Mẹ tôi khuyên rằng:

- An ơi! Hãy can-đảm lên, con ạ! Mẹ sẽ cùng học bài với con...

Tôi yên tâm theo mẹ tôi về nhà, nhưng lòng vẫn nhớ tiếc một ông thày vui tính và hiền từ, vẫn thấy trường học kém vui, không bằng năm ngoái.


Chú-thích:

    (1) Tuy-Ranh: một thành phố ở khu tây bắc nước Ý, trên sông Pô (Turin).

    (2) Các lớp bậc Sơ-Học đều do các bà giáo dạy cả.

Giải nghĩa:

    Ngày khai trường: ngày trường học bắt đầu mở cửa sau vụ nghỉ hè.

    Phụ-huynh: cha, anh; nói rộng là các bậc ngang hàng với cha, anh, đây là cha-mẹ học-trò.

    Cảnh-tượng: phong cảnh và hình-tượng các vật ở trước mắt.

    Náo nhiệt: xôn-xao, rộn rịp.

    Thất-vọng: mất hy vọng, mong mãi lại hỏng.

    Bất kham: không chịu nổi, không làm được; ngựa bất kham là con ngựa sợ việc, không chịu làm.

    Khoan từ: rộng-rãi, hiền lành.

    Tâm tình: bụng dạ và tính tình.





2.- THÀY GIÁO MỚI

Thứ hai, ngày 18

Tưởng thế, chứ thày giáo mới chúng tôi đã khéo làm xứng-ý mọi người ngay sáng hôm nay.

Giờ vào học, sau khi thày đã ngồi vào bàn, chốc-chốc lại thấy một người học-trò cũ qua cửa cúi chào. Cũng có người vào bắt tay thày và thăm hỏi một cách rất cung-kính. Đủ biết học-trò cũ quyến-luyến thày biết dường nào và như muốn còn được ở gần thày. Nhưng chào thì chào, bắt tay thì bắt, thày không nhìn thẳng mắt ai, cứ lảng trông ra cửa sổ. Những dấu thân-ái và biết ơn ấy tưởng đã làm cho thày thỏa ý nhưng trái lại đã khiến thày mủi-lòng.

Đến bài chính-tả, thày xuống bục, đi lại trong các hàng ghế đọc cho chúng tôi viết. Thấy một học-trò mắt lấm-tấm mụn đỏ, thày ngừng đọc, lại gần tay sờ trán và hỏi: “Con làm sao?” Thừa lúc thày quay lưng lại, một anh học-trò bàn dưới leo lên ghế dun-dẩy như người trượt-tuyết. Bất đồ, thày ngoảnh lại bắt gặp, anh chàng vội ngồi ngay xuống, cúi đầu đợi phạt. Nhưng ông Bích-Niên sẽ đập vào vai anh học-trò dại-dột kia, bảo rằng: “Không được làm thế nữa”. Có thế thôi. Rồi thày bình-tĩnh về chỗ đọc nốt bài chính-tả.

Khi viết xong, thày yên-lặng nhìn chúng tôi một lúc rồi ôn-tồn nói:

- Các con ơi! Hãy nghe ta! Chúng ta cùng nhau phải qua một năm-học. Chúng ta nên hết sức làm việc để qua năm ấy cho được tốt-đẹp. Phải chăm-chỉ. Phải ngoan-ngoãn. Ta không có gia-đình. Các con là gia-đình của ta. Năm ngoái, mẹ ta còn, bây giờ người đã khuất. Ta chỉ còn có một mình ta. Ngoài các con ra, ở trên đời này, ta không còn có ai nữa; ngoài sự thương-yêu các con, ta không còn thương-yêu ai hơn nữa. Các con ví như con ta. Ta sẽ yêu-dấu các con. Đáp lại, các con phải yêu-dấu ta. Ta không muốn phạt một người nào cả. Các con phải tỏ ra là những trẻ có tâm-hồn. Trường ta sẽ là một gia-đình, các con sẽ là mối an-ủy và mối tự-hào của ta. Ta không cần phải hỏi lại các con vì ta tin rằng trong lòng các con, ai ai như cũng “vâng lời”, nên ta có lời cảm ơn các con.

Thày nói dứt lời thì người coi trường vào báo “hết giờ” (1). Chúng tôi yên-lặng xuống sân. Anh học-trò vô lễ ban nãy gión-gién lại gần thày giáo, nói run run:

- Thưa thày, xin thày tha lỗi cho con.

Thày gật đầu, hôn trán anh và bảo:

- Tốt lắm! Cho con về.


Chú-thích:

    (1): Trong các trường học ở các thị xã nước Ý ngày xưa có tục: Cứ đến hết giờ học thì người coi trường phải đi từng lớp và rao hai tiếng “hết giờ! ”

Giải nghĩa:

    Xứng-ý: vừa lòng, thích ý.

    Mủi lòng: cảm động, nhớ thương.

    Trượt tuyết: dùng thứ giầy riêng trượt trên bãi tuyết để chơi, sự trượt tuyết cũng là một môn thể-dục của dân xứ lạnh.

    Gia-đình: gia quyến, chỗ cha mẹ, con cái đoàn-tụ với nhau.

    Khuất: qua đời, mất, chết.

    Tâm-hồn: tâm-tư và linh hồn, lòng tốt và ý nghĩ hay.

    An-ủy: khuyên giải dỗ-dành, còn gọi là an-ủi.

    Tự-hào: tự cho là được, là hay.





3.- MỘT TAI-NẠN

Thứ sáu, ngày 21

Niên học này đã mở đầu bằng một tai-họa. Sáng nay, cha tôi đưa tôi đi học. Tôi mải nhắc lại những lời tâm-huyết của ông Bích-Niên đã nói với học-trò hôm trước cho cha tôi nghe, nên tới trường lúc nào không biết. Tôi giật mình thấy một đám túm-đông túm-đỏ ở trước cửa.

Cha tôi bảo: “Chắc lại có sự chẳng lành gì đây.” Chúng tôi khó-nhọc mới len vào được. Phòng khách đầy những phụ-huynh và những học-trò mà lúc ấy các thày giáo không tài nào xua vào lớp được. Mọi con mắt đều nhìn vào cửa buồng ông hiệu-trưởng. Một ông đội mũ cao vừa đến, người ta thì-thào: “Đấy là Bác-sĩ”.

Cha tôi hỏi một giáo-sư thì ông trả lời:

- Bánh xe đè phải chân nó.

Ông khác nói tiếp:

- Và nghiền nát bàn chân.

Nạn-nhân là một trò em lớp Tư, đi học qua phố Đỗ-xá, thấy một em bé tuột tay mẹ dắt ngã lăn giữa lối, một cái ô-tô hàng đang vùn-vụt chạy đến. Lập tức, cậu chạy ra lôi đứa bé kia dậy và ôm được nó lên rồi, nhưng không may, bánh xe lướt phải chân cậu. Cậu là con một viên Quan Ba pháo-thủ.

Trong khi chúng tôi đang nghe người ta kể lại như thế, thì ở ngoài có một người đàn-bà xô đẩy mọi người và hốt-hoảng chạy vào như một người điên. Đó là mẹ cậu Dư-Biên, người học-trò bị nạn. Ngay lúc ấy, một người đàn-bà khác là mẹ cậu bé được cứu chạy ra ôm lấy bà, thổn thức khóc và đưa bà vào phòng ông hiệu-trưởng. Ở ngoài, người ta nghe tiếng kêu đau đớn của bà Dư-Biên.

- Ôi Duy-Lệ con ơi!... (Duy-Lệ là tên tục cậu bé).

Lát sau, một chiếc xe ngựa đỗ trước giậu, ông hiệu-trưởng bế cậu Biên ra. Cậu bé, sắc da nhợt-nhạt, hai mắt nhắm nghiền, gục đầu vào vai ông hiệu-trưởng. Phút ấy, trong phòng im-lặng như tờ, người ta chỉ nghe thấy tiếng nức nở của bà mẹ thôi. Ông hiệu-trưởng dừng bước giữa phòng, nâng cao cậu bé lên như để mọi người trông rõ. Tức thì các thày giáo, các cô giáo, các phụ-huynh và học-trò, ai nấy đều phàn-nàn thương cho cậu và khen cậu là người can-đảm ít có. Mấy cô giáo đứng gần đấy liền hôn hai bàn tay xanh rớt của cậu. Cậu Biên bỗng bừng mắt và hỏi sẽ:

- Cặp sách em đâu?

Mẹ em bé sống sót giơ cặp, vừa nói vừa khóc:

- Em ơi! Cặp của em đây rồi, ta sẽ đem lại nhà cho em.

Thấy con nói được, bà Dư-Biên mới lại hồn. Mọi người đều giải-tán. Cậu bé bị thương được đưa lên xe rất cẩn-thận. Xe bắt đầu chuyển bánh, chúng tôi vào lớp, ai nấy đều cảm-động và lặng thinh.


Giải nghĩa:

    Tai họa: tai vạ, một sự hoạn-nạn khốn-khổ tự nhiên xảy ra.

    Tâm-huyết: máu ở trong trái tim, nghĩa bóng là thành-thực, ân-cần.

    Can-đảm: gan và mật; lòng dũng-cảm không sợ sự nguy-hiểm.

    Giải-tán: tan, ra về không họp nữa.





4.- CẬU BÉ MIỀN NAM

Thứ bảy, ngày 22

Chiều qua, trong khi thày giáo đang cho chúng tôi biết tin-tức anh Dư-Biên và nói anh sẽ phải chống nạng trong ít lâu thì ông hiệu-trưởng đưa một người học-trò mới vào lớp. Cậu bé, da nâu, tóc đen, mắt to, mày giao, mặc quần áo màu xẫm, ngoài nịt dây da. Sau khi nói nhỏ với ông Bích-Niên mấy câu, ông hiệu-trưởng để cậu bé ở lại rồi ra. Anh học-trò mới trố mắt nhìn chúng tôi, có vẻ sợ-sệt. Thày giáo liền dắt anh lại trước mặt chúng tôi và bảo rằng:

- Các con ơi! Các con hẳn được vui lòng vì hôm nay mới vào trường ta một trò em, quê ở xứ Cát-Lạp (1) cách đây xa lắm, ở mãi tận miền cực nam nước ta. Các con hãy niềm-nở tiếp người bạn mới này. Em là dân một địa-phương có tiếng, địa-phương ấy đã sinh ra những bậc danh-nhân, những tay thợ khéo và những quân-nhân dũng-cảm. Xứ của em lại là một xứ đẹp vào bậc thanh-tú nhất nước, có bao nhiêu là núi lớn rừng xanh, dân-cư rất thông-minh và can-đảm. Các con ơi! Các con hãy yêu-quý bạn con cho bạn con khuây nỗi nhớ quê. Các con hãy tỏ cho bạn con biết rằng một đứa trẻ nước Ý đi đến trường nào trong nước là cũng gặp được bè bạn, gặp được anh em ở trường ấy.

Nói xong, ông Bích-Niên lại chỗ treo bản đồ Ý-đại-lợi, trỏ vị-trí xứ Cát-Lạp cho chúng tôi coi. Xong thày dõng-dạc gọi.

- Đỗ-Sinh!

Đỗ-Sinh - anh học-trò bao giờ cũng chiếm phần thưởng thứ nhất - đứng dậy.

- Con lên đây.

Đỗ-Sinh ra ghế, lên bàn giấy, đứng cách anh học-trò mới, độ hai bước.

- Con là người đầu lớp, lấy tư-cách ấy, thay mặt anh em, con hãy đem dấu thân-ái của một người dân xứ Bắc tỏ cùng một người dân xứ Nam.

Đỗ-Sinh lại gần anh học-trò miền Nam nói rất êm ái và rõ-ràng:

- Chúng tôi mừng anh!...

Rồi Đỗ-Sinh hôn hai má người bạn mới một cách rất nồng-nàn. Chúng tôi vỗ tay rầm-rập.

Thày quát: “Im! Không được reo cười trong lớp!! ”

Tuy nhiên, thày tỏ ý rất bằng lòng về mối nhiệt-tình của chúng tôi. Cậu bé miền Nam cũng ra dáng vui-sướng. Ông Bích-Niên đưa cậu bé đến chỗ ngồi và nói thêm:

- Cho được cái kết quả nói trên, nghĩa là làm cho một đứa trẻ xứ Nam ở xứ Bắc cũng như ở nhà mình và đứa trẻ xứ Bắc vào xứ Nam cũng tựa như về quê mình, nước ta đã phải chiến-đấu trong 50 năm trời và đã hy-sinh trên ba vạn người Ý mới khôi-phục được quyền tự-do ấy. Vậy các con phải coi nhau như con một nhà, yêu nhau như anh em ruột-thịt. Kẻ nào thấy người bạn mới không phải người xứ mình mà đem lòng khinh rẻ, kẻ ấy sẽ không đáng ngẩng mặt nhìn ngọn quốc-kỳ đi qua.

Cậu học-trò miền Nam vừa ngồi vào chỗ thì các bạn chung quanh tíu-tít, kẻ đưa ngòi bút, người cho bút chì và tranh-ảnh, một bạn ngồi ghế sau gửi lên cho cậu một cái tem Thụy-Sĩ để tỏ tình thân-ái.


Chú-thích:

    (1) Calabres.

Giải nghĩa:

    Mày giao: đồi lông mày rậm và dài, gần sát với nhau.

    Cực nam: ở cuối cùng phương nam.

    Địa-phương: một miền, một hạt, một xứ.

    Danh-nhân: người có tiếng ai cũng biết.

    Thanh-tú: thanh nhã và xinh đẹp.

    Dõng-dạc: chững-chạc ngay ngắn.

    Nhiệt-tình: lòng nóng nẩy, sốt-sắng.

    Chiến-đấu: đánh nhau, đo hơn thua cùng nhau.

    Hy-sinh: súc vật dùng để tế trời, nghĩa bóng là bỏ cả quyền lợi và tính mệnh để làm một việc gì.

    Khôi-phục: mất rồi lại lấy lại được.





5.- BẠN TÔI

Thứ năm, ngày 28

Người đã cho cậu bé miền Nam cái tem thơ hôm trước là người bạn mà tôi thích hơn hết. Anh lớn nhất lớp, đầu to vai rộng, năm nay gần 14 tuổi, tên gọi Hạ-Long. Anh rất tử tế, coi miệng cười thì biết. Ngoài anh Long tôi còn quen nhiều bạn nữa.

Anh Quyết-Tư là một bạn mau mắn và vui-vẻ, tôi rất ưa mến. Anh thường mặc cái áo-nịt bằng da rái-cá và đội cái mũ nồi bằng da mèo. Anh là con một người hàng củi. Cha anh đã từng đầu-quân trong cuộc chiến-tranh năm 1866 và nhập vào đội quân của Hoàng-thân Ôn-Ba. Người ta nói cha anh đã được ba tấm huy-chương. Cạnh anh Tư là anh Niên-Ly, lưng gù, người coi yếu đuối mảnh-dẻ và anh Võ-Tiên một người học-trò phục-sức rất sang và có tính hay làm dáng.

Đầu bàn nhì, có một cậu bé mặt tròn, mũi dẹp mà anh em thường gọi đùa là “chú phó nề” vì cha cậu làm nghề ấy. Cậu có cái biệt tài là “nhăn mõm thỏ” làm cho ai nấy phải bật cười, vì thế anh em hay bắt cậu làm trò để đùa nghịch với nhau. Cậu lại có cái mũ rất mềm thường vo-viên bỏ túi như chiếc mùi-soa.

Cạnh “chú phó nề” là anh Ngạc-Phi, người gầy-gò mũi khoằm, mắt bé. Lúc nào anh cũng bán chác nào bút, diêm, nào tranh, ảnh cho bạn. Anh lại hay chép bài học vào móng tay để đọc, anh khôn khéo đến nỗi không bao giờ thày bắt gặp.

Gần đấy lại còn một cậu bé coi bộ khinh khỉnh là cậu Cát-Lộ họ Ngô. Cậu ngồi giữa hai người bạn đối với tôi rất tử-tế: một người là con người thợ khóa, ăn mặc vụng-về, xanh-xao như người ốm, coi bộ dút-dát và buồn thiu; người kia, tóc vàng da xanh, một cánh tay bị liệt phải đeo trước ngực. Cha cậu sang Mỹ, mẹ cậu ở nhà bán hoa-quả rong.

Người ngồi bên trái tôi lại đáng chú-ý hơn nữa, tức là anh Tạ-Đinh, thân lùn cổ rụt, ít nói và hay cáu. Anh không thông-minh mấy nhưng rất chú-ý đến lời thày giảng, anh nghe không dám cựa, mắt thẳng, trán cau, miệng mím. Ai hỏi anh trong lúc thày đang cắt nghĩa, nhất định anh không trả lời, vô-phúc hỏi đến lần thứ hai là bị anh đạp luôn cho mấy cái... Và anh vẫn không hé răng.

Cạnh anh là Phan-Tín, một tên rắn mặt và gớm-guốc, hình như đã bị đuổi ở trường làng.

Lại còn hai em nhà nọ, ăn-mặc như nhau và cùng đội mũ gài lông trĩ, trông giống nhau như đúc.

Người tử-tế hơn hết, thông-minh hơn hết, người chắc-chắn sẽ được phần thưởng thứ nhất, ai cũng biết trước là anh Đỗ-Sinh.

Anh Cát-Sinh con người thợ khóa nói trên, thực là một người học-trò đáng thương hại. Theo lời người ta nói thì anh thường bị cha đánh đập luôn, đến nỗi anh thành ra người rút-rát, mỗi khi hỏi ai hay lỡ chạm phải ai là anh “xin lỗi” luôn miệng và nhìn người ta bằng đôi mắt hiền-lành và buồn-bã.

Trong ngần ấy người bạn, theo ý tôi, thì anh Long là người tốt hơn cả.


Giải nghĩa:

    Rái cá: giống thú ở nước bắt cá ăn, da dùng làm áo, mũ trẻ con.

    Đầu quân: xin ra lính.

    Huy-chương: cái dấu hiệu của nhà-nước ban cho những người có công-trạng để đeo.

    Phục-sức: đồ mặc làm cho đẹp người.

    Trĩ: giống chim thuộc về loài gà, lông dài và đẹp.


[imgleft][/imgleft]
Về Đầu Trang
Dư khánh



Ngày tham gia: 24 Oct 2007
Số bài: 433

Bài gửiGửi: Tue May 02, 2017 10:11 pm    Tiêu đề: TÂM HỒN CAO THƯỢNG (tiếp theo)


6.- Lòng hào hiệp

Thứ tư, ngày 26

Sáng nay, chúng tôi vừa vặn có dịp xét đoán anh Garônê.

Giờ vào lớp, ông Perbôni chưa có đấy, ba bốn cậu đang thi nhau chế giễu anh Crôtxi khốn nạn - tức là cậu bé tóc vàng, tay liệt, con bà bán hoa quả. - Họ lấy thước đánh cậu, lấy vỏ hạt dẻ ném cậu, họ gọi cậu là con quỉ què và mếu máo giả cách làm người liệt tay. Ngồi trơ một mình ở đầu ghế, cậu thẹn thùng và đưa mắt nhìn người nọ, người kia như để van lơn họ khỏi hành hạ mình. Được thể, bọn học trò càng làm già. Cậu phẫn uất quá, máu đưa lên cổ và phát run người. Thình lình, Phranti, một đứa học trò mặt xấu như khỉ, đứng lên ghế, khuỳnh hai cánh tay như người khoác hai cái giỏ, bắt chước bộ tịch mẹ cậu Crôtxi những khi đứng đợi con ở cửa trường. (Đã mấy hôm nay, bà không đến đón con vì bị ốm). Coi tấn tuồng câm ấy học trò cười ầm cả lên. Crôtxi điên tiết, vồ ngay lọ mực trước mặt ném Phranti, Phranti né mình, lọ mực trúng giữa ngực ông Perbôni ở ngoài bước vào.

Mọi người hết vía, chạy trốn về chỗ và ngồi im thin thít.

Thầy giáo lên bục cau mày hỏi:

- Ai ném lọ mực?

Chẳng ai hé răng.

Thầy gắt:

- Ai? Ai ném?

Lúc ấy bị kích thích vì lòng thương bạn, anh Garônê đứng dậy nói quả quyết:

- Thưa thầy, con.

Thấy mọi người sửng sốt về câu trả lời ấy, thầy hiểu ngay và ôn tồn nói:

- Không. Không phải con.

Xong thầy lại nói:

- Ai trót dại đứng lên thú nhận, ta sẽ tha.

Crôtxi đứng lên nói:

- Thưa thầy, các anh ấy chọc con, đánh và chửi con... Con mất trí... Con trót ném...

Thầy nói tiếp:

- Cho ngồi xuống. Bây giờ đến lượt những kẻ sinh sự đứng lên.

Bốn anh trong bọn khiêu khích đứng dậy, cúi đầu.

Thầy mắng:

- Các anh đã vô cớ lăng mạ một người bạn không trêu chọc các anh. Các anh đã chế giễu một người tàn tật. Các anh đã xúc phạm một đứa trẻ yếu đuối không tự vệ được. Các anh đã làm một điều hèn hạ đáng xấu hổ, một điều có thể làm nhơ nhuốc đến phẩm giá của con người, các anh là những đồ đê tiện!

Nói xong thầy xuống giữa lớp, lại chỗ anh Garônê ngồi. Thấy thầy đến, anh cúi đầu. Ông Perbôni để tay xuống dưới cằm nâng mặt anh lên, nhìn thẳng vào hai mắt anh và nói:

- Con có một trái tim cao thượng đáng khen!

Anh Garônê nhân dịp ấy cúi vào tai thầy nói nhỏ mấy câu. Lập tức thầy quay lại chỗ 4 kẻ tội nhân và đột nhiên bảo:

- Thôi! Tha cho các anh.





7.- Trên rầm thượng. (1)

Thứ sáu, ngày 28

Chiều hôm tôi và em Xinvya cùng đi với mẹ tôi đem quần áo cho một người đàn bà nghèo mà người ta đã mách trong một tờ báo. Tôi mang gói, em tôi đã ghi sẵn tên tắt và địa chỉ người đàn bà ấy ra mảnh giấy cầm tay. Chúng tôi leo lên gác thượng một tòa nhà cao lắm. Tới nơi, chúng tôi thấy một hành lang dài, hai bên có những căn phòng liên tiếp nhau. Mẹ tôi gõ cửa buồng cuối cùng. Một người đàn bà còn trẻ mặt bủn vóc vầy ra mở cửa. Trông cái khăn vuông trùm trên đầu, tôi nhớ hình như đã gặp bà này ở đâu thì phải.

Mẹ tôi hỏi:

- Có phải bà là người mà người ta đã mách trên báo?

- Thưa bà vâng, chính chúng tôi.

- Đây, tôi mang lại cho bà ít quần áo.

Người đàn bà nghèo khó kia cám ơn chúng tôi mãi không thôi.

Lúc ấy, tôi trông thấy trong một góc nhà không đồ đạc và tối mò, có một cậu bé quay lưng ra phía chúng tôi. Cậu quì trước một cái ghế hình như đang mải viết. Giấy để trên mặt ghế mà lọ mực thì dưới sàn. Không biết cậu ta làm thế nào mà viết được trong xó tối như vậy.

Tôi đang tự hỏi thế, chợt trông thấy mớ tóc vàng hoe và cái áo dài lụng thụng, tôi nhận ra ngay anh Crôtxi, con bà bán hoa quả, tức là cậu bé liệt tay. Tôi bảo sẽ mẹ tôi, trong lúc mẹ anh đang gỡ gói quần áo.

Mẹ tôi bấm:

- Im, đừng gọi, cậu ấy sẽ ngượng chăng.

Nhưng, ngay lúc ấy Crôtxi quay ra; tôi bối rối, anh mỉm cười với tôi. Mẹ tôi liền đẩy tôi lại. Anh giơ hai tay chạy ra. Tôi liền ôm lấy anh hôn.

Mẹ anh nói:

- Thưa bà, bà đã rõ, nhà chỉ có mình cháu với tôi. Cha cháu đi sang Mỹ đã sáu năm nay, không may vừa rồi tôi lại bị ốm không đi hàng được, phải bán dần đồ đạc để ăn. Cả đến cái bàn viết của cháu cũng không còn. Đèn đuốc cũng thiếu, cháu phải học mò trong bóng tối rất hại mắt. Nhưng cũng may là tôi còn có thể cho cháu ra trường và cháu được sách vở phát không. Thương hại cho cháu! Cháu chịu khó lắm! Có khi nhịn đói đi học. Thưa bà, tình cảnh chúng tôi thật là khổ sở quá!...

Mẹ tôi lấy tất cả tiền trong ví bỏ vào tay người đàn bà khốn khổ, hôn anh Crôtxi rồi dân dấn nước mắt trở ra.

Về nhà, mẹ tôi khuyên tôi rằng:

- Con ơi! Con hãy trông gương đứa trẻ nghèo khổ ấy đã phải học hành trong cảnh thiếu thốn và khó khăn. Về phần con, con có đủ mọi thứ cần dùng mà đôi khi con còn kêu sự học vất vả. Này! Enricô ơi! Một ngày làm việc của Crôtxi còn đáng công hơn cả một năm học của con. Chính những hạng học trò ấy phải cho phần thưởng danh dự mới phải.

Cha tôi đã nghe được những lời mẹ tôi khuyên bảo tôi, vì thế ngay chiều hôm ấy, tôi thấy để trên bàn viết của tôi lá thư sau này:



(1) Ở bên Âu, những dân nghèo thường phải thuê nhà ở trên rầm thượng, tức là tầng gác sát mái nhà, cho được rẻ tiền.




8.- Học đường

Thứ sáu, ngày 28

“Enricô con ơi! Việc học đối với con hình như khó nhọc, mẹ con nói phải đấy. Cha chưa bao giờ trông thấy con đi học với cái dáng quả quyết và nét mặt hớn hở như cha mong muốn! Con thử tưởng tượng nếu con ngồi không ở nhà thì ngày giờ của con sẽ trống trải biết là dường nào! Cha chắc chỉ trong vòng một tuần lễ là con lại muốn trở lại nhà trường. Con ơi! Hiện thời, không một đứa trẻ nào là không đi học. Con hãy nghĩ đến những người thợ làm lụng cặm cụi cả ngày, tối đến còn phải cắp sách đi học, những cô thiếu nữ suốt tuần lễ bị giam giữ trong xưởng, chủ nhật đến cũng rủ nhau đi học, những binh lính hết giờ luyện tập cũng đem ra học, viết. Cho đến những trẻ mù, trẻ câm, chúng cũng đều học cả.

Mỗi buổi sáng, lúc con ra trường, con hãy nghĩ cùng giờ ấy, trong thành phố ta có tới 3 vạn đứa trẻ cũng như con đi “chầu” lớp học trong ba tiếng đồng hồ để được mở mang trí tuệ. Con lại nghĩ: xấp xỉ giờ này, con trẻ trong các nước trên hoàn cầu đều đi học cả. Con hãy tưởng tượng những trẻ lếch thếch trên những đường hẻm nhà quê, rảo bước trong các phố phường huyên náo, dưới bầu trời oi ả hay trong cơn mưa tuyết lạnh lùng: chúng đi thuyền ở những xứ lắm sông ngòi, cưỡi ngựa qua những cánh đồng mông quạnh, hoặc ngồi “xe trượt” trên những bãi băng giá lanh. Chúng xuống lũng, lên đồi, chúng xuyên rừng lội suối, chúng vượt qua những ngọn đồi hẻo lánh hoang vu. Ăn mặc hàng nghìn lối khác nhau, nói bằng trăm thứ tiếng khác nhau, chúng đi một mình hay lũ năm lũ ba, sách cắp trong tay hay cặp đeo dưới nách.

Từ ngôi trường cùng tột lấp trong ánh tuyết nước Nga cho tới nóc trường hẻo lánh lẩn trong khóm gồi xứ Ả rập, có tới hàng triệu triệu đứa trẻ cùng học một điều bằng những thể thức khác nhau.

Con lại tưởng tượng cái tổ kiến học sinh ấy gồm có hàng trăm dân tộc khác nhau và cái trường hoạt động ấy, con có cái hân hạnh dự phần rồi con tự nhủ: ví phỏng một mai sự hoạt động ấy ngừng hẳn thì nhân loại sẽ trở lại đời mọi rợ, sẽ sa vào cõi tối tăm, sự hoạt động ấy là sự tiến bộ, là mối hy vọng, là ánh sáng vinh quang của thế giới vậy.

Cố lên! Tên lính nhỏ trong đạo quân lớn lao kia! Cố lên! Con ơi! Lấy sách vở làm khí giới, lấy lớp học làm quân đội, lấy thế giới làm bãi chiến trường, coi sự ngu dốt là cứu địch và lấy sự văn minh của nhân loại làm cuộc khải hoàn, con phải phấn đấu luôn luôn và chớ hề làm tên lính hèn nhát.”





9.- Lòng yêu nước của cậu bé thành Pađôva (1)

Cầm lại tiền của các người. Ta không thèm nhận của bố thí của những người kẻ đã lăng mạ nước ta.


(Truyện đọc hàng tháng)

Thứ bảy, ngày 29.

Không, không bao giờ tôi chịu làm tên lính hèn nhát. Nếu ngày nào thầy giáo cũng kể cho tôi nghe như câu chuyện sáng nay thì có lẽ không bao giờ tôi muốn nghỉ học. Theo lời thầy thì mỗi tháng sẽ có một truyện mà truyện nào cũng nói về những thủ đoạn phi thường của một đứa trẻ con.

“LÒNG YÊU NƯỚC CỦA CẬU BÉ THÀNH PAĐÔVA” đó là đầu đề câu chuyện sáng nay.

Năm trước, một chiếc tàu Tây Ban Nha dời bến Bardêlôna (2) để đi Giênôva (3). Trên tàu, trừ người Tây Ban Nha, còn có một ố người Pháp, người Italia, người Thuỵ Sĩ, và nhiều người khác nữa. Trong bọn hành khách người ta nhận thấy một đứa trẻ độ 11 tuổi, ăn mặc nhơm nhếch, đứng riêng một chỗ và nhìn những người kia bằng đôi mắt hầm hầm. Nó nhìn như thế cũng không phải hẳn là không có cớ. Cha mẹ nó là nông dân ở gần Pađôva, cố nhiên là nghèo túng, hai năm trước vì tham tiền đã cho nó đi ở với một người chủ xiếc rong. Người này dạy nó một vài món nhảy, lộn rồi bắt nó theo sang Pháp và Tây Ban Nha. Nó bị hành hạ luôn tay và ăn uống không đủ.

Đến thành Bardêlôna, không thể chịu được cái đời sống khổ ải ấy nữa, đứa trẻ khốn nạn liền trốn chủ đến cầu cứu viên lãnh sự Italia. Động mối thương tâm, viên lãnh sự xin cho nó một chỗ trong tàu nói trên và cho nó một lá thư giới thiệu cùng ông thị trưởng thành Giênôva nhờ ông trả về cho cha mẹ nó, là người đã bán nó như một con vật. Thằng bé còm gầy yếu đuối và mặc bộ quần áo rách. Người ta cho nó ngồi phòng hạng nhì. Hành khách ai cũng nhìn nó, có người hỏi nó song nó không trả lời. Nó có vẻ căm ghét mọi người vì những sự khắc khổ và hành phạt đã làm cho nó oán hận và không có cảm tình. Tuy nhiên, có ba người hành khách đã khéo làm cho nó hé răng. Nó kể chuyện nó bằng tiếng Italia pha giọng Tây Ban Nha. Ba người khách kia không phải là dân Italia nhưng cũng thương nó, cho tiền để nó nói chuyện, nghe cho đỡ buồn. Đồng thời, có mấy thiếu phụ đi qua, ba ông quí khách hãnh diện ném thêm tiền xuống bàn loảng xoảng và nói: “Cầm lấy! Cầm lấy nữa này! ”

Đứa bé sung sướng, vơ tiền bỏ túi, cảm ơn rồi vào phòng. Nó buông màn cửa xuống ngồi yên lặng và nghĩ đến những việc nó sẽ phải làm.

Nó nghĩ: với số tiền ấy, nó sẽ được ăn no, không phải thèm nhạt như trước. Khi tới Giênôva, nó sẽ sắm một bộ cánh mới để thay bộ quần áo nó đeo hai năm trời nay, rách như tổ đỉa. Nó lại định để ra một ít tiền đem về cho cha mẹ, chắc là được săn đón và quí hóa hơn là về tay không. Số tiền ấy đối với nó là một món tiền to. Ngồi sau rèm cửa, nó trừ đi tính lại và trong lòng thấy khoan khái nhẹ nhàng.

Lúc ấy, ba người khách nói trên đang ngồi ở buồng ăn, quây quần uống rượu và nói chuyện về những cuộc du lịch của mình cùng phong tục những nước đã đi qua. Tình cờ, câu chuyện nhằm vào nước Italia. Một người bắt đầu phàn nàn về khách sạn, người chê về xe lửa. Cuối cùng, rượu say, họ thi nhau nói xấu tất cả những gì thuộc về nước Italia. Người thứ nhất nói biết thế, họ sẽ di du lịch xứ Lappôn (4) (ở cực bắc châu Âu) còn hơn sang nước Italia. Người thứ nhì nói quả quyết rằng ở Italia hắn gặp toàn thị những phường quỷ quyệt và những quân cường đạo. Người thứ ba nói thêm rằng:

- Những người tùng sự nước Italia không biết chữ.

Người thứ nhất nói:

- Đó là một dân tộc ngu dốt!

Người thứ nhì tiếp:

- Bẩn thỉu!

- Và ăn...

Người thứ ba định nói câu “ăn cắp” nhưng chưa dứt lời thì một trận mưa toàn tiền vàng và bạc hắt vào mặt những người ấy rơi tung tóe xuống bàn và trên sân. Ba người hầm hầm đứng dậy xem trận mưa dữ ấy ở đâu ra thì lại bị ném thêm.

Cậu bé thành Pađôva vén rèm thò đầu ra thét bằng giọng khinh bỉ:

- Cầm lại tiền của các người. Ta không thèm nhận của bố thí của những người kẻ đã lăng mạ nước ta.



Chú thích: (1) Padoue. (2) Barcelone. (3) Gênes. (4) Laponie.




10.- Em bé quét mồ hóng

Ngày mồng một tháng mười một

Chiều qua tôi sang trường Nữ Học để đưa cho cô giáo em Xynvya bản tiểu truyện “Cậu bé thành Pađôva” mà cô muốn xem. Trong trường có tới 700 nữ sinh. Khi tôi đến học trò đang ra về, ai nấy đều hớn hở vì được nghỉ mấy ngày nhân dịp lễ “Chư Thánh”.

Đối cửa trường, bên kia đường cái, có một đứa bé quét mồ hóng, chân tay quần áo đen thủi, đứng quay vào tường, gục đầu vào cánh tay khóc nức nở.

Hai ba cô học trò lớp hai lại gần hỏi tại sao, nhưng nó cứ khóc và không trả lời.

Bọn học trò lại hỏi:

- Anh có việc gì? Sao lại đứng đây mà khóc?

Nó bèn nhấc cánh tay để lộ một gương mặt hiền lành và nói đi quét mồ hóng từ sáng đến lúc ấy được 3 hào, vô ý bỏ vào túi thủng, tiền rơi mất cả. Nó không dám về sợ chủ đánh.

Nói xong lại tru lên khóc và gục mặt vào cánh tay như một kẻ chán đời.

Lũ học trò bé quay lại nhìn nhau, cho là quan trọng lắm. Một bọn khác cũng xúm lại: bé có, lớn có, con nhà nghèo, con nhà giàu có, thẩy đều cắp cặp trong tay. Một cô trong bọn, người đã lớn và trên mũ có gài chiếc lông xanh, móc trong túi ra hai xu, bảo chị em:

- Tôi còn có hai xu. Chúng ta quyên vậy.

Cô áo đỏ nói:

- Tôi cũng có hai xu. Trong bọn ta, làm gì lại chả thu được ba hào.

Nói xong, hai cô hô hào:

- Chị Amêlya, chị Lighya, chị Anna ơi! Mỗi chị một xu! Chị nào có xu nữa không?

Mấy cô đem tiền định mua vở và mua hoa, thấy thế cũng vui lòng bới ra cho. Vài em bé cho cả tiền kẽm. Cô mũ gài lông xanh nhặt tiền và đếm to:

- Tám, mười, mười lăm! Còn thiếu nhiều!

Một thiếu nữ nghiêm trang có lẽ là cô trợ giáo đi qua thấy thế, cho một hào. Cả bọn đều vỗ tay. Còn thiếu năm xu nữa.

Một em bé reo:

- Kìa các chị lớp bốn đã đến, các chị ấy có nhiều xu!

Quả nhiên, bọn học trò lớp bốn đến và bỏ nhiều tiền. Bấy giờ, có tới trăm cô nữ sinh đứng xúm xít vòng trong vòng ngoài, vây chặt đứa bé, bày ra một cảnh đẹp mắt vô cùng: Một cậu bé lọ lem điểm giữa các cô gái xinh tươi, làn tóc phất phơ, áo mầu rực rỡ.

Ba hào đã đủ, nhưng tiền vẫn ném vào. Mấy em bé không tiền cũng cố len vào cho vài chùm hoa vì các em cũng muốn dự vào việc phúc.

Chợt người gác trường kêu to:

- Bà Đốc!

Các cô chạy tán toạn như một đàn chim sẻ bay vù.

Còn trơ lại thằng bé quét mồ hóng đứng lau nước mắt. Hai tay nó không những đầy xu mà ở khuy áo, miệng túi và trên mũ còn giắt bao nhiêu là hoa! Tiền nhiều, hoa đẹp, cậu bé bây giờ thấy mình sung sướng như một ông Hoàng, vừa đi vừa hát!...


Về Đầu Trang
Dư khánh



Ngày tham gia: 24 Oct 2007
Số bài: 433

Bài gửiGửi: Wed May 03, 2017 10:31 pm    Tiêu đề: TÂM HỒN CAO THƯỢNG (tiếp theo)


THÁNG MƯỜI MỘT

11. Người bán than và ông quý phái

Thứ hai, ngày mồng 7

Carlô Nôbix lúc nào cũng kiêu hãnh vì sinh ra ở nơi quyền quý và giàu có. Cha anh vẻ người phong nhã, đứng đắn, trán rộng, râu đen, thường đưa anh đến trường.

Sáng qua, Carlô cãi nhau với Betty là con một người bán than. Cũng lý, anh chẳng tìm được lời gì, phát cáu nói:

- Bố mày là đồ bần tiện!

Betty đỏ mặt, không nói được nữa, nước mắt chạy quanh.

Trưa về, Betty kể lại cho cha hay. Buổi chiều, ông bố lập tức ra trường phàn nàn với thầy giáo. Ông ta đang phân trần thì theo lệ thường, ông Nôbix cũng vừa đến cổng và cởi áo khoác cho con. Nghe thấy có người nói đến tên mình, ông tiến vào xem có việc gì.

Ông Perbôni nói:

- Kìa ông Nôbix đã đến! Vừa khéo! Ông này đang đến phàn nàn vì Carlô đã mắng con ông ấy bằng câu “Bố mày là đồ bần tiện! ”

Ông Carlô cau mày và hơi đổi sắc mặt, quay lại hỏi con:

- Có thực con đã nói thế?

Carlô đứng ngây như gỗ, cúi đầu im lặng.

Ông Carlô xin phép dắt con đến chỗ Betty và bảo:

- Con xin lỗi anh Betty đi!

- Thưa ngài xin thôi!

Người hàng than nói thế và toan chạy vào ngăn lại, nhưng ông quý phái không nghe, cứ bắt con xin lỗi:

- Con nhắc lại câu này: Anh Betty ơi! Tôi xin lỗi anh về lời bất nhã và vô ý thức mà tôi đã chót nói phạm đến cha anh, người mà cha tôi rất lấy làm hân hạnh được bắt tay.

Không dám ngẩng mặt, Carlô cứ nguyên văn nhắc lại những câu cha vừa dạy bằng giọng thấp.

Rồi ông Nôbix đưa tay cho người bán than bắt một cách rất nồng nàn.

Bắt tay xong “Bá tước” quay lại nói với thầy giáo.

- Thưa ngài, xin ngài làm ơn cho hai đứa trẻ này ngồi liền nhau.

Ông Perbôni đặt luôn Betty ngồi cạnh Carlô. Khi chúng đã yên chỗ, ông Carlô chào và trở ra.

Ông hàng than đứng lại một lúc, bâng khuâng, do dự. Ông ngắm hai trẻ ngồi sánh vai nhau, rồi chẳng nói chẳng rằng, ông chạy lại toan ôm lấy Carlô, song đến nơi ông bỗng dừng lại, đành lấy bàn tay chuối hột sẻ vuốt tóc anh Carlô rồi ra thẳng.

Thầy giáo bảo chúng tôi:

- Các con hãy nhớ lấy tấn kịch mà các con vừa xem. Đó là một bài học hay nhất trong năm.





12. Mẹ tôi

Thứ năm, ngày mồng 10

Sáng nay cô giáo Đencati lại chơi, cha tôi nhận thấy tôi đã nói một câu vô lễ với mẹ tôi. Vì thế cha tôi răn tôi bằng lá thơ sau này, đọc rất cảm động.

“Trước mặt cô giáo của em con, con đã tỏ ra vô lễ với mẹ con. Enricô ơi! Lần sau không được thế nữa! Thái độ hỗn hào của con đã xuyên thấu trái tim cha như một mũi dao. Cha còn nhớ mấy năm trước đây, mẹ con đã thức suốt đêm ở cạnh giường con, nghe hơi con thở, mẹ con đã lo lắng võ người và mỗi khi nghĩ đến nỗi phải “bỏ” con thì lại sụt sùi. Con ơi! Con nên nghĩ đến những lúc ấy và không nên tệ với mẹ con, một người mẹ sẽ sẵn lòng đem một năm hạnh phúc của mình để chuộc một giờ đau đớn cho con, một người mẹ sẽ vui lòng đi ăn xin để nuôi con và sẵn lòng hy sinh tính mệnh để cứu con sống! Con ơi! Trong đời con, con sẽ có những ngày buồn rầu, thảm đạm, nhưng cái ngày buồn thảm nhất, chính là ngày con mất mẹ con.

Rồi đây, con sẽ trưởng thành, những cuộc phấn đấu sẽ rèn con nên người mạnh mẽ. Con sẽ không bao giờ quên được hình ảnh mẹ con và con sẽ ước gì lại được nghe thấy tiếng êm ái và trông thấy nét mặt hiền từ của mẹ con, ví dù lớn đến mực nào, khoẻ đến mực nào, con vẫn thấy là một đứa trẻ chơ vơ và yếu đuối. Con sẽ hồi tưởng lại những lúc đã làm cho mẹ con phải mếch lòng mà con buồn. Lòng hối hận sẽ cắn rứt con. Hình ảnh dịu dàng và từ ái của mẹ con sẽ làm cho con thêm rầu rĩ. Con nên nhớ rằng lòng hiếu thảo là một bổn phận thiêng liêng của con người. Kẻ nào giày xéo lên chữ hiếu là kẻ khốn nạn. Quân giết người nếu biết tôn kính cha mẹ, cũng còn một điểm thành thực trong tâm; con người dù sang trọng tuyệt vời, nếu làm rầu lòng mẹ, xúc phạm đến mẹ, cũng là kẻ không có nhân cách.

Enricô ơi! Con van mẹ con đi, để mẹ con hôn con cho cái hôn ấy xóa sách vết vô ơn ở trên trán con. Con ơi! Lòng cha vẫn yêu con, vì con là mối hy vọng quý báu nhất đời của cha, nhưng cha thà không con còn hơn là có đứa con ở bạc với mẹ! ”

Cha con.





13.- Học trò nghèo

Chủ nhật, ngày 13

Cha tôi đã thứ lỗi cho tôi rồi, nhưng lòng tôi vẫn buồn nên chiều nay mẹ tôi cho tôi đi chơi với người gác cổng.

Khi chúng tôi đi qua một cái xe bò đỗ trước một cửa hàng kia, tôi thấy có tiếng người gọi tôi. Quay lại thì ra anh Côretti bạn học tôi. Anh mặc cái áo dài da rái cá và đội cái mũ nồi da mèo. Mồ hôi ướt đầm nhưng nét vui tươi vẫn lộ trên khuôn mặt, anh đang vác trên vai một bó củi nặng. Một người đàn ông đứng trên xe chuyển củi cho anh mang vào hàng. Anh xếp đống rồi lại ra xe. Tôi hỏi:

- Anh làm gì thế?

Anh vỗ vào bó củi trên vai, đáp:

- Anh coi đây thì rõ. Tôi vừa làm vừa học bài anh ạ.

Rồi anh vai vừa vác củi, miệng vừa lẩm bẩm:

- Người ta gọi sự biến hóa của tiếng động từ là những sự thay đổi của tiếng ấy về số, và về các ngôi...

Anh vừa ném cùi vào đống vừa đọc:

- Tùy theo thì của việc làm...

Rồi lộn ra xe lấy củi, anh đọc tiếp:

- Và tùy theo cách của việc làm...

Đó, anh học bài văn phạm để đọc hôm sau.

Anh hỏi tôi:

- Anh xem tôi lợi dụng thời giờ như thế có được không? Cha tôi và người ở thì đi giao hàng, mẹ tôi thì ốm, tất đến việc tôi phải dở xe củi. Tuy nhiên, việc làm vẫn không ngăn trở việc học bài. Hôm nay chúng ta phải bài khó quá! Tôi nhai mãi không thuộc.

Anh quay lại nói với người kéo xe bò:

- 7 giờ cha tôi về bác sẽ đến lấy tiền.

Người đánh xe đi. Anh rủ tôi:

- Anh vào chơi với tôi một tí.

Tôi vào trong một gian rộng xếp đầy củi thanh và củi bó, cạnh cửa có một cái cân.

Anh nói tiếp:

- Hôm nay nhà tôi bận rộn quá. Tôi phải làm bài từng câu vụn, từng đoạn con. Lúc nãy, đang viết thì có người gọi mua hàng... Bán xong, vào vừa cầm bút thì người xe củi đến. Từ sáng đến giờ tôi đã ra chợ củi ở bãi Vênêzya hai lần rồi. Chân mỏi quá mà tay thì phồng lên. Bây giờ mà phải vẽ thì đến chịu.

Anh vừa nói vừa quét những lá khô rải rác trên thềm.

Tôi hỏi:

- Anh làm bài ở chỗ nào?

- Ở trong này. Anh vào coi.

Anh đưa tôi vào gian sau cửa hàng là chỗ vừa làm buồng ăn vừa làm bếp. Trong một góc có cái bàn trên bày mấy quyển sách và vở bài đang làm dở. Anh nói:

- Câu hỏi thứ hai hiện còn bỏ trống: Người ta dùng da thuộc để làm giày dép, cương ngựa...

Bây giờ tôi viết thêm: làm vali.

Rồi anh cầm bút viết chữ rất tốt.

Chợt có tiếng hỏi ở ngoài hàng:

- Có ai bán hàng không?

Đó là một người đàn bà đến mua củi.

- Có! Tôi đây.

Anh vội thưa, chạy ra cân củi, nhận tiền, biên sổ rồi vừa trở vào vừa nói một mình:

- Không biết họ có để yên cho mình làm hết bài không?

Xong anh ngồi viết nối: làm hòm, làm túi đạn.

Viết đến đây anh hốt hoảng kêu:

- Chết! Hỏng cả ấm cà phê!

Rồi anh chạy lại lò, nhắc ấm ra, nói:

- Đây là cà phê của mẹ tôi, anh ạ. Hai ta cùng mang vào đi! Thấy anh chắc mẹ tôi sẽ vui lòng... A! Tôi còn phải biên thêm gì nữa ở dưới chữ: túi đạn không? Kể thì còn nhiều thứ nữa, nhưng tôi chưa kịp nghĩ ra... Mời anh vào đây...

Bạn tôi mở cửa, chúng tôi vào chỗ mẹ anh nằm. Bà nằm trên một cái giường rộng đầu bịt khăn vuông trắng.

- Thưa mẹ, cà phê đây ạ.

Nói xong, anh đưa mắt chỉ tôi và nói:

- Đây là bạn học của con.

Bà nói:

- Quí hóa quá! Đến thăm kẻ ốm là một điều hay cậu ạ.

Anh Côretti nắn lại gối, kéo lại chăn cho mẹ, thêm lửa trong lò và đuổi con mèo ngồi chồm hổm trên mặt tủ. Mẹ uống xong, anh đỡ chén và hỏi:

- Mẹ không cần gì nữa chứ? Mẹ đã uống hai thìa thuốc ho chưa? Dùng hết, con sẽ ra hiệu lấy. Củi đã xếp đầu vào đấy cả rồi. Đến bốn giờ con sẽ nướng thịt như lời mẹ dặn và khi nào người hàng mỡ đi qua, con sẽ trả 8 xu. Thưa mẹ, mẹ cứ yên tâm. Mọi việc con sẽ làm chu đáo cả.

Bà hàng than nói:

- Ngoan lắm! Con tôi chẳng sót việc gì. Tội nghiệp!...

Nhân tiện anh Côretti lại chỉ cho tôi xem bức ảnh cha anh treo ở tường, ông vận nhung phục, ngực dính Quận công bội tinh, khuôn mặt giống anh như đúc, mắt sáng, miệng tươi.

Chúng tôi lộn ra phòng ăn. Côretti bỗng reo to:

- Tôi tìm thấy rồi!

Rồi anh chạy lại biên thêm vào vở bài: người ta cũng làm yên ngựa bằng da nữa.

Anh nói tiếp:

- Thôi, còn mấy câu hỏi nữa để đến khuya sẽ làm... Anh Enricô ơi! Anh sung sướng quá, anh có đủ thời giờ học, viết và thời giờ đi chơi.

Luôn luôn vui vẻ và lanh lẹ, anh đưa tôi ra ngoài hàng. Anh lấy những thanh củi đặt lên bàn, cưa mỗi thanh hai nhát đứt đôi. Rồi anh bảo tôi:

- Đây là ngón võ khoẻ gấp vạn món thể thao “co và duỗi cánh tay”! Tôi muốn cắt hết đống củi này trước khi cha tôi về, tất cha tôi sẽ hài lòng lắm; nhưng khốn thay sau buổi kéo cưa như thế những chữ t và l tôi sẽ viết ra hình rắn cả, đúng như lời thầy giáo thường kêu. Nhưng tôi biết làm thế nào? Tôi sẽ thú thực với thầy: “Con vận động cánh tay nhiều quá, ngón tay thành ra tê cả! ” Điều đó không ngại. Bây giờ tôi chỉ mong sao cho mẹ tôi chóng khỏi. Nhờ giời! Hôm nay mẹ tôi đã khá nhiều! Còn bài văn phạm, đến mai tôi sẽ dậy sớm học cũng kịp. A! Kìa xe than đã về, tôi phải ra.

Một xe bò chất đầy bao đen đỗ trước cửa hàng. Anh chạy ra nói chuyện với người đánh xe xong, lộn vào bảo tôi:

- Bây giờ tôi không thể giữ anh được nữa. Đến mai nhá! Cảm ơn anh đã tạt vào thăm tôi. Tôi chúc anh đi chơi được vui vẻ, anh Enricô sung sướng của tôi!

Bắt tay tôi xong, anh chạy ra cõng từng bì than một, từ xe vào hàng, rồi lại từ hàng đi ra, nét mặt tươi tỉnh dưới chiếc mũ da mèo, ai trông thấy cũng phải chú ý.

“Enricô sung sướng”! - Lời bạn đã tặng tôi. - Nhưng không, anh Côretti bạn quí của tôi ơi! Không! Chính anh mới là người sung sướng vì anh vừa làm vừa hoc, và anh có ích cho cha mẹ hơn tôi, vì anh đảm đang và giỏi gấp trăm tôi!





14.- Ân nhân của bạn Nelli

Thứ tư, ngày 22

Hôm qua, Neli đi xem diễu binh. Cậu bé gù lưng này nhìn lính diễu qua bằng cặp mắt buồn rầu và than rằng:

- Như thân tôi, thì không bao giờ được ra lính.

Cậu bé khốn nạn ấy chăm học lắm; người còm và xanh, động học là hơi thở tai. Mẹ cậu là một bà tóc đỏ, áo thâm, cứ tan học là đến đón cậu để khỏi bị anh em xô đẩy. Ta hãy trông mẹ cậu vuốt ve và yêu dấu cậu biết là dường nào! Mấy ngày đầu, học trò cứ chế giễu cậu và lấy cặp thích vào lưng cậu nhưng không bao giờ cậu kháng cự và mách mẹ cả, vì cậu giấu không cho mẹ biết mình hay bị bắt nạt để mẹ lo buồn. Họ chọc ghẹo quá, lắm lúc cậu phải gục đầu xuống bàn khóc thầm.

Một hôm, thấy thế, anh Garônê can thiệp và bảo bọn học trò:

- Ai còn động đến Nelli nữa sẽ biết tay ta. Ta sẽ đá cho một trận để nhớ đời!

Phơranti chẳng coi lời dọa ấy vào đâu, cứ chế giễu hoài, liền bị Garônê đá cho một cái lộn ba vòng. Từ đó không ai dám động đến Nelli nữa. Thầy giáo cho Garônê ngồi cạnh Nelli, hai cậu thành đôi bạn thân.

Việc này, chắc anh Nelli về thuật lại với mẹ, nên mới có câu chuyện sáng nay.

Còn độ nửa giờ nữa thì tan học, thầy giáo sai tôi mang bản khóa trình lên bàn giấy ông hiệu trưởng. Tôi vừa vào phòng thì gặp mẹ anh Nelli đến hỏi ông hiệu trưởng:

- Thưa ngài, ở đây có cậu nào tên gọi là Garônê không?

- Thưa bà có.

- Xin ngài làm ơn cho gọi cậu ấy lên đây để tôi hỏi chút việc, có được không?

Ông hiệu trưởng bấm chuông gọi người gác cổng bảo đi gọi cậu Garônê. Một phút sau thì cậu tới, có vẻ ngạc nhiên vì không hiểu bị gọi về việc gì.

Vừa trông thấy cậu, bà Nelli chạy luôn lại cầm tay và xoa đầu cậu một cách rất quí hóa.

- Cậu Garônê đây à? Cậu là bạn của Nelli và vẫn bênh vực cho em phải không?

Nói xong, bà tháo chuỗi dây “Thánh giá” bằng vàng đeo vào cổ anh Garônê và nói:

- Cậu em yêu quí của ta! Em hãy nhận chút kỷ niệm này, kỷ niệm của một người mẹ vẫn cầu nguyện cho em và hết lòng cảm ơn em.





15.- Em bé trinh sát

(Truyện đọc hàng tháng)

Thứ bảy, ngày 28

Năm 1859, trong cuộc chiến tranh để giải phóng cho xứ Lômbacđi, quân Pháp và quân Italia đã đại thắng quân Áo ở trận Xolphêrinô và trận Xan Mactinô. Sau những trận này được mấy hôm, vào khoảng cuối tháng sáu, một đội kỵ mã nhỏ đi nhẩn nha trong con đường hẻm về phía địch để dò xét hai bên cánh đồng. Đội kỵ mã này có một sĩ quan và một viên đội chỉ huy; hai người đều yên lặng, cố nhìn những tên lính xung phong bên địch vận đồ trắng thấp thoáng ở đằng xa.

Đội kỵ mã cứ thế đi tới một cái nhà tranh, chung quanh giồng những cây tần bì cao lớn. Trước nhà có một đứa con trai độ 12 tuổi đang cầm dao róc vỏ một cành tần bì để làm gậy. Trên cửa sổ nhà này có treo một lá cờ tam tài lớn, bên trong chẳng có ai cả. Khi thấy quân kỵ mã đến, đứa bé vứt que và cất mũ chào. Đó là một cậu bé tóc đỏ, mắt xanh, vẻ mặt quả quyết. Cậu vận áo sơ mi, hở ngực.

Sĩ quan dừng ngựa hỏi:

- Em làm gì ở đây? Sao không đi lánh nạn với gia quyến?

Cậu bé trả lời:

- Cháu không có gia quyến. Cháu là một đứa trẻ bơ vơ. Cháu chỉ làm việc cho những người muốn tìm cách sinh sống cho cháu. Cháu ở đây để xem đánh trận.

- Em có thấy quân Áo qua đây không?

- Không, đã ba hôm nay cháu không nom thấy.

Sĩ quan suy nghĩ một lúc rồi xuống ngựa, trèo lên mái nhà tranh nhìn xét nhưng chỉ trông thấy một khu đồng hẹp vì nhà này thấp quá.

Sĩ quan vừa tụt xuống vừa nói:

- Phải leo lên cậy mới nhìn được.

Ngay trước nhà có một cây tần bì cao lắm, ngọn mềm phe phẩy trong đám mây xanh. Sĩ quan đứng ngẫm nghĩ, nhìn cây rồi lại nhìn lính rồi lại nhìn cây, sau đột nhiên hỏi cậu bé:

- Em trông co tinh không?

- Cháu à? Mắt cháu có thể nhìn rõ một con chim cách xa nghìn thước.

- Em có thể trèo lên cây này không?

- Lên ngọn cây này? Chỉ là công việc trong nháy mắt.

- Em thử nhìn xem ở đằng xa, về phía địch có quân lính, cát bụi bay, ngựa hay súng ống gì không?

- Vâng.

- Em cố giúp ta và em có muốn gì không?

Cậu bé cười nhạt đáp:

- Không, cháu chả muốn gì cả. Nếu làm việc cho quân Áo thì các vàng cháu cũng không giúp. Nhưng cho quân ta... cháu là người Lômbacđi...

- Thế thì tốt lắm. Trèo đi!

- Khoan để cháu cởi giày đã.

Cậu tháo giày, thắt chặt lại dây lưng, vứt mũ xuống cỏ rồi bám cây, leo thoăn thoắt như một con mèo.

Một lát sau, cậu bé đã lên tít ngọn cay, lá che kín chân, chỉ trông thấy ngực. Ánh nắng chiếu vào tóc cậu lóng lánh như nhuộm vàng để nhìn cho rõ:

- Nhìn thẳng đằng trước mặt và đằng xa em!

Cậu víu một tay, còn một tay giơ lên ngang trán để nhìn cho rõ.

Sĩ quan nói:

- Có thấy gì không?

Cậu cúi xuống lấy tay làm loa và trả lời:

- Có hai người cưỡi ngựa trên đường.

- Gần hay xa?

- Độ nghìn hay hơn nghìn thước.

- Họ tiến về phía này?

- Không, họ đứng.

Im lặng một lúc, sĩ quan lại hỏi:

Em còn trông thấy gì nữa không? Thử quay sang bên phải xem.

Cậu bé nhìn về bên phải rồi đáp:

- Có trông thấy người không?

- Không. Họ nấp cả trong ruộng lúa.

Ngay lúc ấy, một viên đạn bay vút trong không và rơi xuống sau nhà.

Sĩ quan kêu:

- Em ơi xuống đi! Họ nhìn thấy em rồi. Ta không muốn dò thêm gì nữa. Xuống ngay đi!

Cậu đáp:

- Cháu không sợ.

- Xuống! Ta bảo xuống kia mà!

- Thong thã đã... Đằng kia, ở bên trái cháu trông thấy... Một viên đạn nữa vụt qua tai làm ngắt lời cậu. Cậu rùng mình kêu:

- Lũ quái định “truy” mình đây.

Sĩ quan phát tức, thét:

- Xuống lập tức!

Cậu đáp:

- Vâng, cháu xuống. Xin chú yên tâm, đã có cây che cho cháu. Nhưng chú có muốn biết bên trái có gì nữa không?

- Không. Không. Xuống đi!

Cậu nghiêng mình về bên trái vừa nhìn vừa nói to:

- Bên trái, gần nhà thờ, hình như có...


cậu lộn nhào, trước còn bám vào cây, vào cành, sau buông tay và rơi lộn đầu xuống đất.


Viên đạn thứ ba trúng ngọn cây, người ta thấy cậu lộn nhào, trước còn bám vào cây, vào cành, sau buông tay và rơi lộn đầu xuống đất.

Sĩ quan vừa nguyền rủa quân thù vừa chạy lại.

Cậu bé nằm sõng sượt trên đất, hai tay dang ra. Một dòng máu đỏ ở ngực chảy ra. Người đội và hai người lính xuống ngựa chạy lại. Sĩ quan mở áo sơ mi cậu xem thì viên đạn thấu phổi bên trái. Sĩ quan kêu:

- Tội nghiệp! Thằng bé chết rồi!

Viên đội nói tiếp:

- Không, nó còn sống.

Sĩ quan gọi cậu bé:

- Em ơi! Đứa em khốn khổ và can đảm của ta ơi! Tỉnh lên! Tỉnh lên!

Sĩ quan vừa nói vừa cầm khăn mùi soa lau vết thương cho cậu, cậu mở bừng mắt rồi ngả đầu ra chết.

Sĩ quan tái lợt, nhìn cậu bé hồi lâu, đứng dậy rồi lại nhìn hình như không nỡ dứt...

Sĩ quan buồn rầu nhắc lại:

- Thương thay! Đứa trẻ can đảm!

Nói xong, sĩ quan với lá cờ treo ở trước cửa nhà kia phủ lên mình cậu bé như một tấm vải liệm chỉ để hở đầu. Viên đội nhặt giày, mũ, dao và gậy gọt dở để bên mình cậu.

Sĩ quan đứng im lặng một lát rồi quay lại bảo viên đội:

- Ta sẽ cho xe hồng thập tự lại rước em. Cái chết này có ý nghĩa quân nhân. Nhà binh sẽ phải chôn cất cho tử tế.

Nói xong, sĩ quan giơ tay chào cậu bé lần cuối cùng.

Rồi, mọi người lên ngựa thẳng tiến.

Vài giờ sau, thi hài cậu bé được táng theo tang lễ nhà binh.

Khi đạo quân kỵ đi khỏi một lúc thì có một đại đội pháo binh đi đến. Chính đội này, mấy hôm trước đây đã đổ máu một cách rất dũng cảm trong trận Xan Mactinô.

Tin cậu bé can đảm kia đã bay tới các hàng quân một cách rất nhanh chóng. Vì thế, khi qua chỗ thi hài cậu bé nằm dưới gốc cây tần bì, các sĩ quan đều giơ gươm chào, một viên cúi xuống bờ suối gần đó rứt nắm hoa, ném trên mình cậu bé. Thế rồi theo gương ấy, tất cả đội pháo binh ai cũng nhặt hoa ném vào. Trong vài phút đồng hồ, hoa phủ đầy thi thể cậu bé.

Quan, lính lúc diễn qua, ai cũng nói:

- Can đảm thay cậu bé xứ Lômbacđi!

- Vĩnh biệt em!

- Em thực là người dũng cảm!

- Vinh dự thay cho em!

- Chúc em yên giấc nghìn năm!

Một sĩ quan tháo tấm Quận công bội tinh của mình đặt nơi ngực cậu. Tức thì, lại một trận mưa hoa phơi phới rơi xuống ngực máu đào, đầu tóc đỏ của cậu bé yên nghỉ dưới lá cờ tam tài đắp ngang. Nét mặt cậu bé như tươi cười! Phải chăng lòng cậu sung sướng và tự hào vì đã bỏ mình cho quê hương của cậu?


Về Đầu Trang
Dư khánh



Ngày tham gia: 24 Oct 2007
Số bài: 433

Bài gửiGửi: Thu May 04, 2017 10:07 pm    Tiêu đề: TÂM HỒN CAO THƯỢNG (tiếp theo)


16.- Kẻ khó

Thứ ba, ngày 29

“Hy sinh cho tổ quốc như cậu bé Lômbacđi, là một đức tính siêu việt đã đành, nhưng cũng còn nhiều nết hay khác mà con không nên sao nhãng con ơi!”

Như sáng nay, lúc đi học về, con đi trước mẹ, con đã gặp một người đàn bà nghèo bế một đứa con nhỏ xanh xao yếu đuối và chìa tay xin con. Con nhìn người ta bằng cặp mắt lạnh lùng, con chẳng cho gì cả mà chính lúc ấy túi con có tiền. Nghe mẹ, con ơi!

Con đừng tập thói làm ngơ trước cái nghèo khó nó ngửa tay xin con; hơn nữa con lại càng không nên bước qua một người mẹ xin ăn cho con. Con hãy nghĩ đến bụng đói của đứa trẻ thơ, nghĩ đến sự đau khổ của người mẹ.

Mỗi khi mẹ bố thí cho kẻ nghèo thì bao giờ họ cũng cảm ơn và chúc cho mẹ, cho cả nhà ta được mọi sự lành. Những lời chúc tụng ấy nghe êm ái biết là dường nào! Và lòng tạ ơn họ không biết bao nhiêu.

Những lời cầu nguyện ấy sẽ thấu đến đấng Thượng đế để ngài phù hộ cho tất cả những người thân yêu của ta. Vì thế, mẹ trở về rất hài lòng và tự nhủ:

- Người ấy đã cho ta nhiều hơn là ta đãi họ!

Enricô ơi! Con hãy nghe mẹ: thỉnh thoảng nên bớt một vài xu trong túi tiền của con để cho người già không chốn nương thân, người mẹ không gạo, đứa trẻ không mẹ không cha. Những kẻ khó thích xin trẻ con vì như thế họ không nhục, vì trẻ con cũng như họ phải cần đến mọi người. Con có nhận thấy ở quanh trường thường có nhiều kẻ ăn xin không? Sự bố thí của người lớn là một việc làm phúc, nhưng sự bố thí của trẻ con không những là một việc làm phú mà còn là một sự vỗ về nữa, vì mỗi lần đứa trẻ đem cho thì hình như đồng tiền kèm với bông hoa ở trong tay nó rơi ra.

Con ơi! Con phải biết con có đủ cả, chứ kẻ khó thì thiếu hết. Khi con mong được sung sướng thì người nghèo chỉ cầu sao cho khỏi chết. Trong một đám có bao nhiêu là nhà giàu, trong một phố có bao nhiêu người sang trọng qua lại, có bao nhiêu đứa trẻ ăn mặc xa hoa, thế mà vẫn còn thấy nhiều đàn bà và trẻ con đói khát, rách rưới! Thực đáng buồn thay!

Muốn cho người ta khỏi chê con là một kẻ vô tình thì từ sau, con đừng bước qua một kẻ khó mà không cho gì”.

Mẹ con





17.- Tính khoe khoang

Thứ hai, ngày mồng 5

Hôm qua, tôi đi chơi với anh Vôtini và cha anh. Khi qua phố Đôra, chúng tôi thấy anh Xtađia đang quay lại đá vung mấy người bạn đã vô ý dẫm phải chân anh trong khi anh mải nhìn một bản địa đồ treo trong hiệu sách (vì anh học cả ở ngoài trường). Chúng tôi gọi, anh chỉ hơi chào trả, thực là thiếu lịch sự!

Chúng tôi mặc anh và thẳng đường đi. Tôi để ý nhìn anh Vôtini thì bao giờ anh cũng ăn mặc xa hoa quá thể, đối với một đứa trẻ con như anh. Giày da dê, áo nẹp thêu, mũ phớt trắng, đồng hồ vàng. Anh ra bộ giương giương tự đắc lắm, nhưng lần này thì bị nhụt!

Cha anh thủng thỉnh đi sau, còn anh và tôi thì chạy trước. Chúng tôi đến một cái ghế đá, đã thấy có một cậu bé cúi đầu ngồi nghỉ, vẻ mệt nhọc. Một người đàn ông nữa, có lẽ là cha cậu, đi tản bộ dưới bóng cây, xem báo. Hai chúng tôi cùng ngồi ghế. Anh Vôtini len ngồi giữa tôi và cậu bé và tìm cách làm cho cậu chú ý đến mình.

Anh giơ một chân lên hỏi tôi:

- Anh đã xem đôi giày bốt tin kiểu “sĩ quan” của tôi rồi chứ?

Anh nói thế cốt để cậu bé kia nhìn đôi giày mới của anh nhưng cậu bé không hề liếc mắt.

Thấy vô hiệu, anh bỏ chân xuống rồi vừa trỏ vào những cái “lon” kim tuyến ở tay áo, vừa liếc sang cậu bé mà bảo tôi rằng:

- Này anh! Lối viền này coi rợn quá! Tôi định thay bằng bộ cúc bạc!

Nhưng cũng phí lời, vì cậu bé ngồi yên như thường.

Anh Vôtini liền đặt mũ lên ngón tay trỏ quay tít. Cậu bé nhất định không nhìn.

Tức mình, anh rút luôn đồng hồ, mở nắp cho tôi xem các bánh xe. Nhưng cậu hàng xóm vẫn không nhúc nhích.

Tôi hỏi:

- Đồng hồ anh mạ vàng?

Anh đáp:

- Không. Bằng vàng cả.

- Nhưng bao giờ người ta cũng pha ít bạc vào.

- Không. Tôi cam đoan với anh rằng đồng hồ tôi toàn vàng.

Rồi cố ý bắt cậu bé kia phải trả lời, anh giơ đồng hồ ngang mặt cậu và nói:

- Này anh coi, có phải bằng vàng cả không?

Cậu kia trả lời cụt ngủn.

- Tôi không biết.

Như bị trêu chọc, Vôtini kêu:

- A! A! Làm bộ nhỉ!

Anh vừa kêu thì cha anh lại. Ông nhìn cậu bé rồi vội bảo anh:

- Im!

Xong ông ghé vào tai anh nói nhỏ:

- Đứa bé khốn nạn này mù, con ạ!

Vôtini nhìn kỹ cậu bé thì thấy hai con ngươi trơ như cùi nhãn.

Anh kinh ngạc, cứng người, mắt nhìn xuống đất, lẩm bẩm:

- Chết chửa! Mình không biết...

Cậu bé mù, hiểu cả, nở một nụ cười tử tế thoảng qua nét buồn nói:

- Không hề gì...

Xét ra, Vôtini là một kẻ hợm mình thực, nhưng lòng anh không độc vì từ lúc ấy, anh kém vui và có vẻ nghĩ ngợi.





18.- “Chú phó nề”

Chủ nhật, ngày 11

Hôm nay “Chú phó nề” lại tôi chơi, chú mặc áo cũ của cha chữa lại, hãy còn nguyên cả vết vôi và thạch cao.

Anh Antôniô vui tính lắm, mới gặp anh lần đầu mà cha tôi đã thích.

Vừa tới cửa, anh lột mũ cát két đẫm tuyết bỏ túi rồi thủng thình bước vào như bộ người thợ mệt, nhìn bên nọ, nhìn bên kia, mặt tròn như quả táo, mũi thì tẹt. Vào phòng ăn thấy bức ảnh “Chú hề gù”, anh liền “nhăn mõm thỏ” ai trông thấy cũng phải tức cười.

Chúng tôi chơi xếp nhà cửa. Anh khéo tay quá, bầy những cầu và tháp rất tài tình. Anh cặm cụi và kiên tâm như một nhà nghề. Trong khi xếp đồ chơi anh kể chuyện cho chúng tôi nghe.

Nhà anh ở một gác xép. Tối tối, cha anh đi học lớp lao động để tập đọc. Năm nay anh mới tám tuổi rưỡi. Cha anh cao lớn như người khổng lồ, vào cửa hay chạm đầu, mà người anh thì bé nhỏ trái hẳn với cha.

Coi y phục của anh thì biết cha mẹ anh thương anh lắm. Áo anh đã kép thêm cho đỡ rét: ca vát đã do tay mẹ anh thắt rất diêm dúa và sạch sẽ.

Bốn giờ chiều, chúng tôi ăn quà ngay ở ghế trường kỷ. Lúc anh đứng lên, tôi thấy một vết trắng dây vào lưng ghế chực lau đi thì không hiểu sao cha tôi giữ tay tôi lại, rồi sau nhằm lúc không ai chú ý, cha tôi tự chùi lấy.

Trong lúc nô đùa, anh đánh đứt một cái khuy áo, mẹ tôi đơm lại cho anh. Anh đỏ mặt, sững người nhìn mẹ tôi khâu và nín thở, có lẽ anh đang áy náy vì đã làm phiền mẹ tôi.

Tôi cho anh xem những bức vẽ hoạt kê, anh bắt chước những bộ nhăn nhó trong tranh rất hệt khiến cha tôi phải bật cười. Hôm nay, “chú phó nề” được một ngày vui quá, lúc về quên cả đội mũ. Ra khỏi hè, như để tỏ lòng biết ơn, chú còn quay lại “nhăn mõm thỏ” với tôi một lần nữa.

Antôniô về rồi, cha tôi bảo:

- Con ơi! Con có biết tại sao cha không cho con chùi ghế trong lúc bạn con còn ở đó? Vì làm thế tựa như mắng bạn đã làm bẩn? Những vết trắng ấy, con có rõ ở đâu ra không? Đó là ở quần áo của cha anh đã quệt phải trong khi làm việc. Những “dấu cần lao” ấy, ta phải kính trọng. Đó là cát bụi, đó là vôi, sơn: chứ không phải là dơ bẩn. Sự cần lao không bôi bẩn bao giờ. Thấy một người thợ đi làm về, con không nên nói:

- Người này bẩn!

Con phải nói:

- Trên áo người này có nhiều vết cần lao.

Những điều ấy, con nên ghi lòng. Con phải quí mến “chú phó nề” kia, trước hết vì đó là bạn con, sau nữa đấy là con một người lao động.





19.- Quả cầu tuyết

Thứ sáu, ngày 16

Tuyết xuống mãi!

Vì tuyết mà sau buổi học sáng nay đã xảy ra một chuyện đáng tiếc. Một lũ học trò ra khỏi cửa trường được một quãng, liền viên tuyết ném nhau, những hòn nặng và rắn như đá. Lúc ấy trên hè đông người đi lại. Một người khách qua đường kêu:

- Đừng ném nữa! Những thằng ranh kia!

Thì ngay lúc ấy, bên kia đường có tiếng rú lên, một ông già, hai tay bưng mắt, đang bước lảo đảo, cạnh có đứa bé con kêu cứu ầm ĩ.

Mọi người đổ đến. Ông già khốn khổ đã bị một quả cầu tuyết trúng mắt. Lũ học trò chạy trốn. Tôi đang đứng ở cửa một hiệu sách đợi cha tôi vào mua, thấy mấy anh bạn chạy lại đứng ngoài tủ kính giả vờ xem: nào anh Garônê, nào anh Côretti, nào “chú phó nề”, nào anh Garôpphi.

Lúc ấy, mọi người đều xúm xít chung quanh ông già bị nạn: một viên cảnh binh dậm dọa hỏi:

- Đứa nào? Đứa nào ném? Bắt nó ra đây!

Người ta tìm những đứa trẻ con khám xem tay ai ướt. Garôpphi đứng cạnh tôi mặt xám như gà cắt tiết.

Công chúng vẫn gào:

- Đứa nào? Đứa nào ném?

Tôi thấy anh Garônê bảo anh Garôpphi:

- Ra đi! Anh cứ ra nhận đi! Đừng để người khác bị bắt oan.

Garôpphi run như cầy sấy, đáp:

- Nhưng tôi có định ném ông ta đâu!

- Dù sao anh cũng phải làm bổn phận của anh.

- Tôi sợ lắm.

- Không việc gì, anh cứ theo tôi.

Viên cảnh binh và công chúng càng gào to:

- Đứa nào? Bắt bằng được! Nó ném vỡ kính đâm mù mắt ông già rồi!

Nghe thấy thế Garôpphi rủn người như sắp ngã xuống đất.

Garônê quả quyết giục:

- Cứ ra, tôi sẽ bênh vực cho anh.

Nói xong, Garônê đưa Garôpphi ra và ôm đỡ anh như một bệnh nhân.

Trông thấy, công chúng hiểu ngay đó là tội nhân, họ hung hăng kéo đến.

Garônê đứng che cho bạn và nói:

- Có phải mười người lớn định đánh một đứa trẻ con không?

Họ đều thôi. Viên cảnh sát đến lôi Garôpphi qua đám đông người điệu vào một cửa hàng là chỗ người ta đã đưa ông già vào ngồi tạm.

Trông ông già, tôi nhận ngay ra là một người làm công trọ ở tầng gác thứ tư, nhà tôi ở. Ông ngồi tựa lưng vào ghế, tay cầm mùi soa ấp mắt người cháu đứng cạnh ông.

Garôpphi mặt tái mét vừa khóc vừa nói:

- Tôi có định ném cụ ấy đâu. Tôi lỡ tay...

Hai ba người đẩy mạnh anh vào hàng và thét:

- Phải quỳ xuống xin lỗi!

Nhưng, ngay lúc ấy, có hai cánh tay mạnh mẽ nâng anh dậy và một giọng quả quyết buông ra:

- Thưa các ngài, không được!

Đó là ông hiệu trưởng trường tôi: ông đã nhìn rõ tấn kịch ấy.

Garôpphi nức nở khóc, hôn tay ông già. Ông lão rờ đầu và xoa tóc anh, tỏ ý tha thứ cho một đứa trẻ đã biết hối.

Lát sau, người ta cho Garôpphi về.

Cha tôi cũng kéo tôi về. Đi đường cha tôi hỏi:

- Enricô ơi! Gặp những trường hợp như thế, con có can đảm ra thú lỗi không?

Tôi đáp:

- Thưa cha, có.

- Con giữ lời chứ?

- Vâng, con xin thề với cha như thế!





20.- Các cô giáo trường tôi

Thứ bảy, ngày 17

Hôm nay, Garôpphi ra trường có vẻ lo lắng vì chắc thế nào cũng bị thầy giáo quở phạt. Nhưng ông Perbôni nghỉ mà thầy giáo phụ cũng không đến, chỉ có bà Crôme là bà giáo có tuổi nhất trường đến dạy thay. Hôm nay bà có vẻ buồn vì con bà ốm. Bà bước chân vào lớp, học trò đã làm rầm lên. Bà chậm rãi nói: “Các con nên trọng mái tóc bạc của ta một chút! Ta không những là một bà giáo, ta còn là một người mẹ! ”.

Ai nấy đều nín thít. Ngỗ nghịch như anh Phơranti cũng đành chịu nói thầm.

Cô Đelcati, dạy em tôi lên thay bà Crôme, còn lớp cô thì để cho cô “Mụ nhà dòng” coi giúp; người ta hay gọi thế vì cô hay mặc đồ thâm. Cô da trắng, tóc trơn, mắt sáng, giọng lại thanh tao hình như trời sinh ra chỉ để đọc kinh cầu nguyện. Tuy nhiên cái giọng êm ái ấy cũng có oai quyền, khiến cho đám trẻ phải kinh sợ; những trẻ nghịch ngợm nhất ở trước mặt cô cũng phải thúc thủ.

Trong trường còn một cô giáo nữa tôi rất quí mến là cô giáo lớp sơ đẳng. Cô sắc mặt hồng hào, má lúm đồng tiền, đầu đội mũ gài lông đỏ. Cô tính tình hòa nhã, trên môi lúc nào cũng nở một nụ cười, dạy học rất vui. Cô luôn luôn gõ thước xuống bàn hoặc vỗ tay cho học trò ngồi im. Lúc học trò ra, cô thường theo sau để giữa cho chúng đi thẳng hàng, xóc cổ áo cho em này, gài khuy áo cho em khác, theo ra tận đầu phố cho chúng khỏi đánh nhau, ngọt ngào nói với cha mẹ chúng về nhà đừng đánh phạt chúng. Em nào ho thì phát kẹo thuốc, em nào rét thì cho mượn bao tay. Lúc nào, cô cũng bị học trò vây đón tíu tít, kẻ kéo khăn quàng. Người lôi cổ áo...

Cô chịu khó lắm, vưà dạy chữ vừa dạy vẽ. Cô đi làm để nuôi mẹ và em.


Về Đầu Trang
Dư khánh



Ngày tham gia: 24 Oct 2007
Số bài: 433

Bài gửiGửi: Fri May 05, 2017 10:14 pm    Tiêu đề: TÂM HỒN CAO THƯỢNG (tiếp theo)


21.- Thăm ông già bị nạn

Chủ nhật, ngày 18

Cháu ông già bị thương hôm nọ học lớp cô giáo nhu hòa, vui vẻ mà tôi vừa kể chuyện. Hôm nay tôi cũng trông thấy anh vì anh ở với ông nuôi nấng như con đẻ. Tôi vừa chép xong câu chuyện hàng tháng nhan đề là “Chàng viết mướn thành Phirenzê” để đọc tuần sau thì cha tôi bảo:

- Ta lên tầng thứ tư xem tin tức ông già hôm nay ra sao?

Chúng tôi lên gác, tìm vào một căn phòng tối mò. Ông già đang ngồi trong giường, chống tay lên gối. Bà vợ đứng đầu giường, người cháu đang chơi. Mắt ông còn buộc băng. Thấy cha tôi đến, ông mừng rỡ mời ngồi và nói hôm nay ông đã khá nhiều. Mắt ông không việc gì, mai kia sẽ khỏi hẳn. Ông nói tiếp: “Thật là một cái hạn! Tôi chỉ thương cho thằng bé hôm ấy bị khiếp sợ quá!”

Chợt có tiếng gõ cửa, ông tưởng bác sĩ đến thăm, nhưng cửa vừa hé tôi nhìn thấy anh Garôpphi trùm áo măng tô lù lù đứng ngoài, mắt nhìn xuống đất, không dám bước vào.

Ông già hỏi:

- Ai đấy?

Cha tôi đáp:

- Đứa trẻ ném tuyết hôm nọ đấy.

Ông già gọi:

- Con vào đây. Con đến hỏi thăm người bị thương phải không? Con hãy yên tâm. Hôm nay ta đã bớt nhiều.

Garôpphi thẹn thùng lại cạnh giường và cố nuốt nước mắt. Ông già xoa đầu anh, anh cảm động quá không nói được lời nào!

Ông già nói tiếp:

- Cảm ơn con đã đến thăm ta. Con về nói với cha mẹ con rằng ta sắp khỏi hẳn và không việc gì để người khỏi băn khoăn.

Garôpphi không nhúc nhích, coi bộ nghĩ ngợi, hình như anh có điều gì trong lòng chưa dám nói ra.

Ông già hỏi:

- Con muốn gì?

- Thưa cụ, không.

- Thôi! Chào con! Con cứ về đi, đừng lo lắng gì nữa.

Garôpphi trở ra, song không hiểu sao anh lại đứng lại nhìn người cháu ông già chòng chọc rồi bỗng dưng rút ở túi ra một gói giấy nhét vào tay cậu bé và bảo:

- Anh cho em.

Nói xong, anh chạy liền.

Cậu bé đem giấy lại cho ông già mở xem.

Tôi ngạc nhiên quá, vì đó chính là quyển sổ quý báu của anh: “Quyển tem các nước” mà anh đã sưu tập từ lâu, quyển sổ mà anh đã đặt bao nhiêu hy vọng và tốn biết bao nhiêu công trình! Tóm lại, nó là cái bảo tàng của anh, nó là huyết mạch của anh xẻ ra, nay anh thành tâm đem lại để chuộc tội.





22.- Chàng viết mướn thành Phirenzê

(Truyện đọc hàng tháng)

Cậu bé là học trò lớp bốn sơ đẳng, quê ở thành Phirenzê mới 12 tuổi, người coi khôi tráng, thông minh, tóc đen, da trắng. Cậu là con đầu lòng một viên ký ga, lương ít, nhà lắm miệng ăn, vì thế sinh kế rất eo hẹp. Cha cậu quí cậu lắm, nhưng đến việc học thì rất nghiêm khắc vì cậu đã lớn, cần phải học gấp cho chóng đủ sức đi làm, kiếm đỡ gia đình.

Cha cậu đã có tuổi, lại lo nghĩ nhiều nên trông già xọm. Thế mà ngoài việc sở ra, cha cậu còn nhặt việc ngoài để kiếm thêm và đêm nào cũng thức khuya làm việc.

Ông vừa nhận được việc viết “băng” báo, cứ 500 tờ thì được 3 lira. Nhưng việc này có phần khó nhọc, nên tối đến, lúc cơm ông thường phàn nàn:

- Mắt ta độ này kém quá. Làm việc đêm hại người thực!

Một hôm cậu con nói:

- Thưa cha, để con làm đỡ vì con viết được.

Cha đáp:

- Không. Con còn phải học. Công việc nhà trường còn quan hệ hơn việc viết “băng” nhiều. Cảm ơn con. Cha không muốn thế.

Biết không thể nào làm lay chuyển được lòng cha. Cậu thôi không nài nữa và nghĩ cách khác.

Một đêm, đợi cho cha viết mỏi tay đi ngủ, cậu khẽ dậy, lần ra phòng giấy, thắp đèn rồi ngồi vào bàn bắt chước lối chữ của cha viết rất nhanh nhẹn. Tập “băng” đã thành đống cao, cậu đếm được 160 tờ. Thế là làm thêm được 1 lira. Cậu nghỉ tay rồi rón rén về buồng ngủ.

Hôm sau cha cậu vui vẻ bảo cậu:

- Giuliô ơi! Cha còn có sức làm việc hơn là con tưởng. Đêm qua, trong hai tiếng đồng hồ, cha đã viết hơn mọi hôm đến quá một phần ba. Tay ta còn lẹ mắt ta còn tinh.

Giuliô sung sướng, tự nhủ lòng:

- Không những kiếm được thêm tiền, ta còn làm cho cha vui sướng tưởng mình trẻ ra. Ta hãy gắng lên!

Cậu làm như thế luôn một tháng. Thức nhiều sinh mệt. Một tối kia, cậu ngủ gật trong khi học bài.

Hôm sau cha cậu mắng:

- Độ này con đổi tính nhiều quá, trước con có thế đâu! Con nên nhớ rằng tất cả hy vọng của nhà ta đều đặt vào tương lai của con. Cha rất không bằng lòng con.

Bị cha mắng, cậu định từ nay thôi không viết nữa.

Nhưng đến chiều, cha cậu về, vui vẻ báo cho nhà biết rằng tháng này cha cậu lĩnh được 32 lira hơn tháng trước. Cha cậu lại mua một gói kẹo lớn về phân phát cho các con. Các em cậu vỗ tay reo mừng. Thấy thế, cậu lại quả quyết làm như trước và tự nghĩ:

- Ta phải gắng hơn chút nữa! Ban ngày ta học, ban đêm ta viết để cho cha và các em ta được sung sướng.

Cậu viết như thế luôn bốn tháng. Bốn tháng đêm thức ngày mệt! Bốn tháng bị cha giày vò hắt hủi.

Sang tháng thứ năm, cậu quyết lòng nghỉ viết để khôi phục lại tình yêu dấu của cha, nhưng đêm đến, cậu lại nhớ giấc dậy. Cậu muốn nhìn lại lần cuối cùng trong bầu không khí bình tĩnh ban đêm, cái phòng con kia, nơi mà cậu đã làm việc lén trong bấy nhiêu lâu. Đèn thắp, cậu đứng trước bàn nhìn tập “băng” trắng mà cậu sẽ không bao giờ được viết nữa, những tính danh và địa chỉ cậu đã thuộc làu, lòng cậu bỗng thấy bồi hồi. Rồi bất giác, cậu lại ngồi xuống làm việc. Tay cậu đụng rơi quyển sách xuống đất. Cậu rùng mình sợ hãi. Chết! Cha cậu dậy thì sao?

Cậu nín thở và lắng tai, nhưng không nghe thấy gì. Im cả! Cả nhà đang ngon giấc. Cậu yên tâm cầm bút viết lia lịa.


Phải! Cha cậu đứng đấy, mắt nhìn ngọn bút lòng cảm thương con!...


Lúc ấy, cha cậu vẫn đứng sau cậu mà cậu không biết, vì nghe tiếng sách rơi, cha cậu nghe ngóng một lúc lâu rồi rón rén ra. Phải! Cha cậu đứng đấy mái tóc bạc cúi trên mái tóc xanh! Phải! Cha cậu đứng đấy, mắt nhìn ngọn bút lòng cảm thương con!...

Bỗng cậu Giuliô thét lên một tiếng, có hai bàn tay run run ôm lấy đầu cậu. Nghe tiếng nức nở, cậu biết ngay là cha, liền nói:

- Cha ơi! Xin cha tha lỗi cho con!

Cha cậu, cúi hôn cậu, nước mắt rỏ cả lên trán:

- Giuliô yêu quí của cha! Con đừng giận cha nhá! Cha đã hiểu cả. Chính cha phải xin lỗi con mới phải.

Nói xong, cha cậu ôm cậu vào giường mẹ cậu và bảo:

- Hôn con đi! Đã bốn tháng nay nó không ngủ để làm việc thay ta. Ta đã phụ bạc nó trong khi nó kiếm gạo nuôi cả gia đình!





23.- Lòng biết ơn

Thứ bảy, ngày 31

Enricô của cha,

Con ơi! Con có ý oán thầy giáo con vì người đã nóng quá. Con nghĩ lại xem đã bao nhiêu lần con gắt gỏng, mà gắt gỏng với ai? Với cha con, với mẹ con là những người đáng lẽ con phải kính nể.

Thầy giáo con đôi khi nóng nẩy, không phải là không có cớ. Đã bao nhiêu năm, người khó nhọc dạy trẻ. Trừ một vài đứa có nghĩa và ở thuỷ chung với thầy, còn phần đông là những kẻ vong ân, chúng đã phụ lòng tốt của người và không nghĩ đến công lao của người. Hết thảy bọn chúng con đều giê cho thầy những mối ưu phiền hơn là những sự như ý. Một người hiền lành nhất trên trái đất này, ở vào địa vị thầy, cũng phải đâm ra tức giận. Lắm phen, trong mình khó xử, thầy cũng phải gắng đi làm vì không đến nỗi phải nghỉ, con có biết đâu! Thầy gắt vì thầy đau, nhất là những khi thầy thấy các con biết rõ là thấy yếu lại thừa cơ nghịch ngợm thì thầy đau khổ biết dường nào!

Con ơi! Phải kính yêu thầy giáo con. Hãy yêu thầy vì cha yêu thầy và trọng thầy. Hãy yêu thầy, vì thầy đã hy sinh đời thầy để gây hạnh phúc cho biết bao nhiêu đứa trẻ sẽ quên thầy. Hãy yêu thầy vì thầy mở mang trí tuệ và giáo hóa tâm hồn cho con. Rồi đây, con sẽ trưởng thành, thầy cùng cha sẽ không còn ở trên đời này nữa, lúc ấy con sẽ thấy hình ảnh thầy thường hiển hiện ở cạnh cha, lúc ấy con sẽ thấy nét đau đớn và lao khổ trên mặt thầy làm cho con phải cực lòng mặc dầu đã cách hàng 30 năm. Rồi con tự thẹn và con ân hận đã không yêu người và trái đạo với người.

Hãy yêu thầy vì thầy là người của cái gia đình giáo thụ lớn lao kia ở rải rác trên địa cầu, cái gia đình ấy dạy dỗ hàng triệu đứa trẻ cùng lớn với con. Nếu con chỉ biết yêu cha mà không nghĩ đến những vị đã làm ơn cho con mà ông thầy đứng vào bậc nhất thì cha chẳng được hài lòng.

Hãy yêu thầy như cha; yêu thầy như những khi thầy vuốt ve con, yêu thầy cả những khi thấy mắng mỏ con, yêu thầy khi thầy không công bằng và cả những khi con tưởng thầy có ý thiên vị! Yêu thầy khi thầy tươi vui, nhưng càng yêu thầy khi thầy buồn bã. Và bao giờ con cũng phải đọc tiếng “thầy” một cách trân trọng vì sau tiếng “cha” thì tiếng “thầy” là tiếng cao quí hơn cả, là tiếng đẹp đẽ hơn cả mà một người có thể đem tặng người khác.”

Cha con.





THÁNG GIÊNG

24.- Thầy giáo phụ

Thứ tư, ngày mồng 4

Giờ tôi mới biết cha tôi nói phải. Ông Perbôni sở dĩ hay gắt là vì trong người không được khoẻ. Thực vậy, đã ba hôm nay, có thầy giáo phụ đến dạy thay. (Thầy nhỏ người, không râu, còn trẻ lắm). Sáng nay đã xảy ra câu chuyện không hay cho thầy. Ngay hôm đầu và hôm thứ nhì, học trò cũng đã làm rầm lớp vì thầy hiền quá, chỉ bảo:

- Ngồi im! Xin các em ngồi im!

Và chẳng phạt ai cả.

Đến hôm nay thì quá lắm. Học trò làm rầm đến nỗi nói không nghe thấy tiếng gì. Thầy kêu, thầy xin, nhưng mất công vô ích. Đã hai lần ông hiệu trưởng phải xuống xem, nhưng khi ông đi khỏi rồi thì đâu lại hoàn đấy, cứ ào ào như cái chợ con. Garônê và Đêrôxi nhiều lần quay lại ra hiệu cho anh em ngồi im và bảo họ như thế là vô hạnh song cũng phí công. Chả ai thèm để ý. Chỉ có anh Xtađi là ngồi im, hai khuỷu tay chống xuống bàn, hai bàn tay ôm lấy thái dương, có lẽ anh đang tơ tưởng về cái tủ sách của anh ở nhà và anh chàng “góp tem” là Garôphi đang biên tên những bạn đã bỏ ra một xu để “đánh số” lấy cái lọ mực con. Còn các học trò khác, người thì cười, người thì lấy bút gõ xuống bàn, người dùng nịt cao su làm súng, vê giấy làm đạn bắn lẫn nhau.

Thầy giáo phụ chạy xuống, lúc kéo người này, lúc lôi người kia lên bắt đứng quay mặt vào tường nhưng cũng không sao dẹp nổi.

Phranti lao mũi tên giấy vào lưng thầy, rồi kẻ huýt còi, người kêu meo meo, kẻ hát người ném mũ làm cầu. Thực là một cảnh hỗn loạn khôn tả. Chợt người gác cổng vào gọi:

- Mời thầy lên, ông hiệu trưởng hỏi.

Thầy giáo phụ đổi sắc mặt, rảo bước ra. Bấy giờ sự huyên náo lại càng tăng. Không thể chịu được, Garônê liền đứng dậy, nắm tay, trợn mắt quát:

- Thôi đi, các anh là những kẻ rồ dại! Các anh đã lạm dụng lòng tốt của thầy giáo phụ! Có đánh vào xác các anh thì các anh mới sợ, còn thương các anh thì các anh lại nhờn, như thế là hèn lắm! Lát nữa thầy giáo phụ về nếu ai còn làm ồn ào hoặc làm trò cười, lúc tan học sẽ biết tay tôi! Cha mẹ các anh dù có đấy, tôi cũng không ngại, chắc chắn cha mẹ các anh sẽ cho việc tôi làm là phải.

Ai nấy đều nín thít. Rồi, mắt sáng quắc như con sư tử hằm hè, anh nhìn khắp lượt những cậu bướng bỉnh và hay nghịch nhất; các cậu đều cúi đầu.

Lát sau, thầy giáo phụ, mắt đỏ, trở về, ngạc nhiên thấy lớp học yên lặng như tờ. Sau khi nhìn Garônê thấy mặt hãy còn bừng bừng phẫn khí, thầy hiểu ngay và bằng giọng thân ái như đối với bạn, thầy nói:

- Cảm ơn em Garônê.

Tức thì cả lớp vỗ tay.

Thế mới gọi là một đứa trẻ có nghĩa khí!





25.- Đứa con người thợ rèn

Thứ năm, ngày 12

Prêcotxi, con người thợ rèn, là một đứa trẻ xanh xao, nét mặt lúc nào cung buồn rầu, sợ sệt, một đứa trẻ nhút nhát đến nỗi bất cứ phải trái đều nhận lỗi cả. Prêcotxi ốm yếu luôn nhưng vẫn cố học. Theo lời người ta nói thì cha anh mỗi khi uống rượu say về, vì một cớ nhỏ mọn, cung đánh đập anh và ném tung sách vở. Cậu bé khốn khổ thường đến trường với những vết thâm tím đầy mặt; có khi khóc nhiều, mắt cậu đỏ và sưng húp lên.

Nhưng không bao giờ, không đời nào người ta lại bắt đuợc cậu thú nhận rằng: chính cha cậu đã đánh cậu.

Có hôm thầy vừa chỉ vào chỗ vở cháy vừa hỏi:

-... Nhưng mà có phải chính con đã đánh cháy trang giấy này không?

Giọng run run, cậu đáp:

- Vâng, con chót dại, xin thầy tha con!

Nhưng các bạn đều rõ chính cha cậu làm cháy vở cậu, vì trong khi chếch choáng, cha cậu vấp ngã đổ đèn vào vở cậu.

Prêcotxi ở trên “rầm thượng” nhà tôi, vì thế vợ người gác cổng hay đem chuyện nói với mẹ tôi.

Một hôm em gái tôi nghe thấy Prêcotxi bị cha đá ngã lộn nhào xuống thang gác, vì anh đã lải nhải xin một hào để mua quyển văn phạm. Cha anh cả ngày chỉ thích uống rượu và chẳng làm gì cả. Vì thế, gia đình anh rất túng thiếu. Lắm hôm, anh nhịn đói đi học: lúc ra chơi, bất đắc di anh phải cầm lấy mẫu bánh của bạn đứng góc sân ăn hay gặm một quả táo mà bạn đã cho giấu trong lớp.

Tuy thế, không bao giờ anh hé miệng phàn nàn:

- Tôi đói lắm! Cha tôi không cho tôi ăn.

Thỉnh thoảng nhân dịp qua trường, cha anh đứng lại đón anh hai mắt đỏ ngầu, chân đi thất thiểu, đầu bù, mu lệch! Trông thấy bóng cha ngoài phố, cậu bé luống cuống, nhưng cũng tươi cười chạy lại. Song cha cậu nhìn đi đâu và nghi việc gì. Thương hại thay cho anh Prêcotxi! Lắm khi anh phải đóng lại vở rách và mượn bạn cùng ghế những sách anh không có. Anh cài áo bằng những ghim băng. Đến khi anh tập võ coi mới thiểu não! Giầy thì to và rộng, quần thì rách tươm, áo thì lụng thụng và cụt cả tay. Thế mà anh vẫn ham học, vẫn cố học. Nếu sự học của anh đuợc đầy đủ, đuợc săn sóc nhu ở các gia đình khác thì anh đã ngồi đầu lớp tự bao giờ. Đáng tiếc cho anh!

Sáng nay, anh đến trường với một vết thương ở má. Chúng bạn hỏi:

- Thôi! Chính là cha anh lại đánh anh rồi! Lần này không giấu đuợc nữa nhé! Vào thưa ông hiệu trưởng đi, để mời cha anh lên Cẩm!

Anh đỏ mặt, nói giọng run run và đầy tức giận:

- Nói bậy! Cha tôi đánh tôi bao giờ?

Nhưng trong giờ học, những giọt lệ ở mắt anh đã lã chã rơi xuống bàn. Có kẻ nhìn anh, anh lại gượng cười để che lòng đau khổ.

Tội nghiệp thay cho anh Prêcotxi!


Về Đầu Trang
Dư khánh



Ngày tham gia: 24 Oct 2007
Số bài: 433

Bài gửiGửi: Sat May 06, 2017 10:53 pm    Tiêu đề: TÂM HỒN CAO THƯỢNG (tiếp theo)


26.- Phranti bị đuổi

Thứ bảy, ngày 21

Trong bọn học trò lớp tôi, có anh Phranti là khó chịu hơn cả. Tôi ghét anh quá vì anh là một đứa trẻ quái ác. Hễ thấy cha mẹ bạn nào đến mách con cùng thầy là anh thích chí. Hễ thấy ai khóc thì anh cười. Anh sợ anh Grarônê một vành nhưng lại bắt nạt “chú phó nề” hết cách vì chú không chống cự được. Anh trêu chọc anh Crotxi, một người học trò bị liệt tay, anh chế giễu anh Prêcotxi là người ai cũng quí, anh chọc ghẹo cả đến anh Robetti học trò lớp hai, phải chống nạng vì cứu một đứa trẻ con. Anh hay sinh sự với những bạn yếu nhất, lúc đánh nhau thì anh hung tợn như con thú dữ và nhè đánh những miếng đòn rất nguy hiểm.

Người ta bảo: mẹ anh buồn vì anh mà thành bệnh và ba lần cha anh đã đuổi anh ra khỏi nhà. Thỉnh thoảng mẹ anh lại ra trường hỏi về hạnh kiểm của anh, nhưng lần nào mẹ anh cũng phải rơi lệ trở về. Phranti ghét thầy, ghét bạn, ghét cả nhà trường. Thầy giáo thường làm ngơ không thèm để tai những lời thô tục của anh, tưởng hay, anh lại nói già. Thoạt tiên thầy còn dùng lời ngọt để cảm hóa anh, song lời khuyên đối với anh như nước đổ đầu vịt, thầy phải đe dọa, anh lấy tay che mặt, ai cũng tưởng anh khóc, trái lại, anh cười. Cuối cùng thầy phải tạm đuổi anh trong ba hôm. Lúc đi học anh lại “mất dạy” hơn trước.

Sáng nay, lúc thầy đưa bản thảo câu chuyện hàng tháng, nhan đề là “chú lính đánh trống, người đảo Xarđenha” cho anh Garônê chép, bỗng có một tiếng nổ như tiếng súng làm chuyển cả trường, ai nấy đều giật nẩy mình, thì ra Phranti đã châm pháo ném vào góc lớp.

Thầy quát:

- Phranti! Ra cửa ngay!

Phranti vừa cười vừa cãi:

- Không phải con.

Thầy lại nói:

- Ra ngay!

- Con không đi đâu cả!

Nghe câu trả lời hỗn xược ấy, thầy mất cả bình tĩnh, nhảy vào cầm tay Phranti lôi ra. Thằng vô lại nó vùng vằng, giẫy giụa và nghiến răng kêu. Thầy phải dùng sức mới lôi nổi nó lên bàn giấy ông hiệu trưởng. Một lát sau ông Perbôni về lớp, ngồi vào bàn giấy, vẻ mệt nhọc, buồn rầu buông một tiếng thở dài:

- Ta đi dạy học đã 30 năm, chưa từng có chuyện lạ như hôm nay bao giờ!

Học trò ngồi im không nhúc nhích. Tay thầy giáo còn run, vết nhăn trên trán thầy lũng xuống như một vết thương. Trông thấy, ai nấy đều mủi lòng.

Bỗng anh Đôrôxi đứng dậy nói:

- Thưa thầy, xin thầy đừng buồn. Tất cả chúng con ngồi đây đều kính mến thầy.

Thầy khẽ gật đầu và bảo:

- Chép bài đi! Các con.





27.- Chú lính đánh trống, người đảo Xarđenha

(Truyện đọc hàng tháng)

Ngày mở đầu trận Cuxtôtza tức là hôm 21 tháng bảy năm 1848, sáu mươi người lính thuộc liên đội bộ binh kia được lệnh lên núi chiếm đóng một căn nhà bỏ không thì thình lình bị hai đội quân Áo đến đánh. Quân địch bắn súng liên thanh túi bụi đến nỗi toán bộ binh phải vất vả mới trốn được vào nhà và phải bỏ tại trận mấy người chết và mấy người bị thương.

Thế rồi quân Italia cứ trong cửa sổ bắn ra, bên ngoài quân Áo tiến theo hình vòng cung và bắn trả rất dữ.

Cầm đầu đội quân Italia, có hai hạ sĩ quan và một viên đại úy là một vị đã có tuổi, người cao lớn khô khao, râu tóc bạc phơ. Trong đội có một chú lính đánh trống, người đảo Xarđenha là một đứa trẻ, da vàng tóc đen, trạc 14 tuổi, nhưng người bé nhỏ chỉ bằng đứa 12. Đại úy đứng chỉ huy việc phòng ngự một căn buồng trên gác, hạ lệnh như tiếng sét. Chú lính đánh trống, mặt hơi xám nhưng chân vẫn vững trên bàn, nhìn qua cửa sổ thấy khói mù và một dải trăng trắng đang tiến dần vào trong bãi.

Quân địch bắn vào như mưa: tường thủng, ngói tan, đồ đạc, trần, cửa đổ vỡ, mảnh gỗ, mảnh bát, mảnh kính bắn tung tóe.

Chốc chốc lại có người lính đứng bắn ở cửa sổ gục xuống ván, người ta phải lôi vào buồng. Mấy người lính nữa, tay bóp vết thương, chân bước lảo đảo ở phòng nọ sang phòng kia. Trong bếp, có một người chết, vỡ óc, coi rất thê thảm.

Vòng cung bao vây của quân địch càng thắt chặt thêm.

Đại úy trong buồng chạy ra nói chuyện với viên đội. Ba phút sau, viên đội chạy tìm chú lính đánh trống. Khi chú lên thấy đại úy đang tì giấy vào cửa kính viết bằng bút chì. Dưới chân đại úy có một cuộn dây thừng xách nước.

Đại úy gấp giấy, nhìn thẳng cậu bé bằng đôi mắt lạnh lùng, đôi mắt mà xưa nay quân lính vẫn từng sợ hãi, đại úy gọi:

- Thằng đánh trống!

Chú lính con liền giơ tay lên rìa mũ.

- Mày có can đảm không?

Hai mắt nổi một luồng chớp sáng, cậu đáp:

- Bẩm, có.

Đại úy đẩy cậu lại cạnh cửa sổ trên mái, trỏ ra và nói:

- Mày trông đằng xa kia, trong cánh đồng gần tòa biệt thự Phrunca, chỗ lưỡi lê lấp lánh kia là quân của ta. Mày cầm giấy này, lấy dây leo xuống rồi theo sườn núi lẩn qua cánh đồng, chạy về liên đội ta và giao thư cho sĩ quan nào mày gặp trước nhất. Giờ mày hãy vứt dây lưng và túi đạn đi.

Viên đội liền giữ một đầu dây, còn đại úy đỡ cậu bé trèo qua cửa sổ và dặn thêm:

- Mày phải thận trọng. Sự thoát nguy của chi đội ta đều trông cậy vào tấm lòng can đảm và đôi chân mạnh mẽ của mày.

Cậu bé vừa bám dây vừa đáp:

- Bẩm đại úy, xin ngài hãy tin vào con.

Một lát sau, chú lính nhỏ đã tới mặt đất. Viên đội kéo dây lên. Đại úy nhìn thấy cậu bé xuống núi và chạy.

Đại úy đang mong sao cho cậu bé đi thoát, bỗng có năm, sáu đám bụi mù nổi lên trước mặt và sau lưng chú, ông biết rằng địch quân đã nhìn rõ. Họ bắn từ trên đồi xuống. Cậu bé đang thoăn thoắt chạy như con thỏ, bỗng ngã rạp xuống đất. Đại úy đã thất vọng, nhưng rồi lại thấy cậu trở dậy chạy, chân hơi khập khiễng. Cậu chạy mỗi lúc một khó nhọc thêm. Thỉnh thoảng lại lảo đảo hoặc đứng hẳn lại.

- Có lẽ hắn bị đạn.

Đại úy đoán thế, nhưng lại thấy cậu bé chạy tiếp.

Một viên sĩ quan lo sợ, vào trình đại úy rằng quân địch bắn luôn tay lại dựng “cờ trắng” truyền lệnh cho ta hàng.

Đại úy vừa nhìn theo cậu bé vừa đáp:

- Không ai được trả lời chúng.

Lúc ấy, người ta trông thấy đầu cậu bé nhấp nhô trong ruộng lúa rồi lại chẳng thấy nữa, có lẽ cậu ngã, sau lại thấy đầu cậu hiện ra; cuối cùng cậu biến trong hàng giậu, đại úy không trông thấy nữa.

Quân Áo đã ập đến. Người ta thấy tiếng hò reo và tiếng súng bắn ầm ầm. Ngoài có tiếng hô:

- Hàng đi! Hàng đi!

Đại úy thét lớn:

- Không đời nào!

Lửa cháy đùng đùng tứ phía. Nhiều quân ngã lăn. Mấy cửa sổ đã bỏ không, không người chiến đấu. Cái phút nguy cấp dã bày ra trước mắt. Đại úy nghẹn ngào kêu:

- Quân ta không đến rồi! Thôi quân ta không đến rồi!

Đại úy nói xong, chạy đi chạy lại, điên khùng rút kiếm toan tự vẫn, bỗng một viên đội ở trên mái trèo xuống reo ầm:

- Quân ta đã đến!

- Quân ta đã đến!

Đại úy nhắc lại câu ấy bằng giọng vui mừng.

Thế rồi, quan quân, kẻ bị thương, kẻ còn mạnh, thẩy đều ra cửa sổ chiến đấu kịch liệt.

Một lát sau, người ta thấy có sự hỗn loạn trong hàng quân địch.

Viện binh đến kịp thời, phá tan quân địch và giải vây cho đội bộ binh.

Hôm sau, đại úy vào nhà thương thăm một viên trung úy bị gẫy tay. Đại úy đang ngơ ngác tìm giường, bỗng nghe có tiếng gọi se sẽ:

- Đại úy!

Đại úy quay lại thì ra chú lính chạy giấy hôm trước, đại úy hỏi:

- Con ở đây à? Giỏi lắm! Con đã làm tròn nghĩa vụ của con. Con có bị thương không?

Cậu bé đáp:

- Tránh sao được! Quân Áo nhìn thấy con chạy liền bắn theo. Nếu con không bị thương thì đã đến sớm hơn được 20 phút nữa. May con gặp ngay được viên sĩ quan ở bộ tham mưu và trao giấy.

Đại úy nhìn kỹ cậu bé và hỏi:

- Trông con xanh quá! Chắc con mất nhiều máu lắm?

Cậu bé mỉm cười đáp:

- Vâng nhiều máu, nhưng còn có điều hơn máu nữa. Ngài thử nhìn xem.

Nói xong cậu mở chăn ra.

Đại úy kinh ngạc, lùi lại một bước. Chú lính đánh trống chỉ còn một chân. Chân trái đã bị cưa ở trên đầu gối.

Lúc ấy, quan thầy thuốc nhà binh đi qua, trỏ cậu bé và nói vội vàng:

- Thực là một trường hợp đáng tiếc. Chân nó bị thương xoàng thôi, nhưng vì gượng đi một cách quá đáng nên vết thương sưng lên đến nỗi phải cưa. Nhưng nó là một đứa trẻ can đảm, đáng khen! Nó không hề khóc và cũng không hề kêu đau. Khi tôi chữa cho nó, tôi rất tự hào rằng nó là một đứa con nước Italia!

Nói xong quan thầy thuốc lại chạy đi chỗ khác.

Đại úy cau mày, nhìn kỹ cậu bé rồi kéo chăn lại. Xong lẳng lặng trông vào cậu bé, đại úy đứng thẳng người, tay giơ lên mũ.

Cậu bé ngạc nhiên hỏi:

- Bẩm đại úy! Ngài làm gì thế? Cái chào ấy để cho con sao?

Vị quân nhân đầu bạc kia, không quen nói ngọt với kẻ dưới bao giờ liền đáp bằng một giọng rất thân thuộc và nhẹ nhàng:

- Phải. Ta chỉ là một viên đại úy. Chứ con, con mới là một vị anh hùng!





28.- Lòng ái quốc

Thứ tư, ngày 25

Đầu bài thi của con sáng nay là: “Tại sao anh yêu xứ sở của anh?” Con đã cảm động về chuyện “Chú lính đánh trống” hôm trước, tất con đã làm bài một cách dễ dàng.

Tại sao anh yêu xứ sở của anh? Câu hỏi ấy chẳng làm nẩy nở trong óc con biết bao nhiêu là câu trả lời hay sao? Tôi yêu xứ sở của tôi vì mẹ tôi sinh trưởng ở đấy; vì nguồn máu trong mạch của tôi đều là của người; vì trong khu đất thánh kia đã chôn vùi tất cả những người quá cố mà mẹ tôi thương, mà cha tôi trọng; vì cái đất mà tôi sinh, thứ tiếng tôi nói, quyển sách tôi học, các em tôi, chúng bạn tôi và một dân tộc lớn sống chung với tôi, cảnh đẹp của tạo hóa bao bọc chung quanh tôi, tóm lại tất cả những sự vật mà tôi trông thấy, tất cả những cái gì mà tôi yêu, tất cả những cái gì mà tôi quí, nhất nhất đều thuộc về xứ sở của tôi cả.

Bây giờ con còn bé, con chưa thể hiểu thấu được thế nào là lòng yêu nước. Rồi ra con sẽ biết. Khi con du lịch ở xa về, một buổi sáng, đứng dựa bao lơn tàu con thấy ở chân trời một dãy núi xanh của xứ con hiện ra, bấy giờ con sẽ thấy trào lệ cảm ở lòng con dâng lên và miệng con vuột ra những tiếng kêu mừng rỡ.

Con sẽ cảm thấy tình yêu nước khi con ở nước ngoài chợt nghe thấy một người trong đám thợ thuyền nói tiếng nước con, theo lòng con xui giục tự nhiên con đến hỏi chuyện người thợ không quen ấy.

Con sẽ cảm thấy tình yêu nước, khi con nghe thấy người ngoại quốc lăng mạ xứ sở con, lòng tức giận sẽ làm cho con nóng mặt.

Con sẽ cảm thấy tình yêu nước mạnh mẽ và tôn đại hơn nữa, nếu một ngày kia, nước địch vô cớ giày xéo vào đất ta; lúc ấy con sẽ thấy nào cha hôn con khuyên câu “dũng cảm”, nào mẹ tiễn con hẹn lúc “khải hoàn”.

Con sẽ cảm thấy tình yêu nước khi con trông thấy những đội quân vất vả trở về với những khúc ca chiến thắng.

Con sẽ cảm thấy tình yêu nước khi con trông thấy lá cờ ba sắc bị bắn tả tơi đi đầu một toán người nghĩa dũng, ai nấy đều phô cao trán buộc băng hay cái tay bị bó, trong đám đông dân chúng hoan hỉ, người ta ném hoa mừng và hô những lời chúc tùng.

Enricô ơi! Bây giờ con đã hiểu thế nào là lòng ái quốc. Đó là một điều rất to tát, rất thiêng liêng. Vì một ngày kia, ta trông thấy con về trận được an toàn, nhưng được tin con lẩn lút để tránh cái chết, thì cha đây thay vì đón con lúc đi học về bằng những tiếng cười vui vẻ, bấy giờ cha sẽ đón con bằng những tiếng khóc xót xa. Cha sẽ không thể thương con được nữa và sẽ đâm tim mà thác cho rồi!

Cha con.





29. - Bà mẹ anh Phơranti

Thứ bảy, ngày 23

Sáng nay, mẹ anh Phơranti thốt nhiên vào lớp, đầu tóc rối bù, tuyết rơi ướt cả. Bà kéo anh Phơranti vào, anh vắng mặt đã tám hôm nay.

Chúng tôi được xem một tấn bi kịch đã diễn ra. Người mẹ khốn khổ kia khúm núm đứng bên ông hiệu trưởng, chắp hai tay kêu xin:

- Thưa ngài, ngài hãy gia ơn cho con tôi vào học như cũ. Đã ba hôm nay, tôi phải giấu nó trong buồng vì cha nó biết chuyện sẽ giết chết nó. Xin ngài rủ lòng thương tôi, tôi không biết làm thế nào, tôi van ngài.

Ông hiệu trưởng tìm cách bảo bà ta ra, nhưng bà ta cứ vật nài, vừa khóc vừa xin:

Nếu ngài hiểu thấu những nỗi ưu phiền mà con tôi đã gieo cho tôi thì ngài không nỡ chối từ... Xin ngài làm phúc cho! Tôi mong sau này cháu sẽ đổi tâm tính. Thưa ngài, tôi cũng không còn sống được mấy hồi nữa, lòng tôi đã khô héo rồi! Tôi muốn được trông thấy con tôi sửa đổi tính nết trước khi tôi nhắm mắt, vì - nói đến đây bà nức nở khóc - tôi thương con tôi lắm. Thưa ngài, xin ngài rộng thường cho cháu vào học, để tránh một mối khổ tâm cho người mẹ đau khổ lắm rồi!

Nói xong, bà bưng mặt sụt sùi khóc. Phơranti cúi đầu, nét mặt thản nhiên.

Ông hiệu trưởng nhìn anh, ngẫm nghĩ một lúc rồi bảo:

- Phơranti, cho về chỗ ngồi!

Bà liền lau nước mắt, chạy lại cảm ơn ông hiệu trưởng và nói:

- Thưa ngài, ngài đã làm một việc nhân đức... Tôi không bao giờ dám quên ơn.

Bà quay lại bảo con:

- Con ơi, từ nay con phải ăn ở cho ngoan ngoãn để khỏi phiền lòng thầy và phụ lòng mẹ.

Rồi nói với học trò cùng ông hiệu trưởng:

- Tôi đã làm mất thì giờ, xin các cậu bằng lòng vậy. Chào các cậu!...Và một lần nữa xin ngài tha lỗi cho một người mẹ khốn khổ!

Nói xong, bà đi ra, người rớt xuống, sắc nhợt nhạt. Khi bà xuống thềm chúng tôi còn nghe thấy tiếng bà ho rũ.

Cả lớp im lặng. Ông hiệu trưởng trông thẳng mặt Phơranti và bảo một câu chúng tôi nghe rất xúc động:

- Phơranti! Mày giết mẹ mày đấy!





THÁNG HAI

30.- Chiếc xe hỏa máy

Thứ hai, ngày mồng 6

Hôm qua anh Prêcôtxi và anh Garônê lại nhà tôi chơi. Các anh đã được tiếp đãi rất ân cần. Anh Garônê đến nhà tôi là lần thứ nhất vì anh hơi gàn, không muốn để cho ai biết rằng mình đã lớn mà còn học lớp ba. Nghe chuông báo, chúng tôi chạy ngay ra cổng đón các anh. Mẹ tôi xoa đầu anh Prêcôtxi; cha tôi giới thiệu anh Garônê với mẹ tôi rằng:

- Em này học khá, tâm địa lại tốt lắm. Anh Garônê cúi cái đầu to húi trọc và mỉm cười với tôi.

Prêcôtxi mới được thưởng bội tinh. Anh sung sướng quá chừng.Cha anh đã đi làm và dăm hôm nay không thấy say rượu nữa. Ông đổi hẳn tính nết và lúc nào cũng muốn con ở trong xưởng với mình.

Chúng tôi bắt đầu chơi. Khi tôi giở những đồ chơi của tôi ra, thấy có cái xe hỏa con bằng sắt chạy được anh Prêcôtxi thích quá. Có lẽ chưa được trông thấy thứ đồ chơi ấy bao giờ, nên anh ngắm nghía cái đầu máy và các toa sơn đỏ, sơn vàng. Tôi đưa chìa khóa cho anh vặn, anh quỳ xuống thềm chơi và không ngẩng đầu lên nữa. Tôi chưa hề thấy anh được tươi tỉnh như thế bao giờ! Anh nói luôn miệng:

- Nhờ anh tí! Tôi nhờ anh tí!

Và lấy tay gạt chúng tôi ra để lối cho xe chạy. Anh nương nhẹ cái xe như là một vật bằng thủy tinh, và không dám thở mạnh sợ làm mờ nước sơn. Rồi anh lau chùi, anh ngắm nghía lòng xe, đáy xe và cười một mình. Trông thân hình anh gầy gò và quần áo anh lượt thượt, tôi động lòng thương anh quá.

- Ta cho quách anh ấy cái xe.

Tôi nghĩ thế và định xin phép cha tôi. Bỗng tôi thấy một mẩu giấy nhét vào tay tôi. Tôi nhìn thấy chữ cha tôi viết bằng bút chì:

“Xem ý Prêcôtxi thích cái xe của con lắm. Nó không có đồ chơi. Vậy lòng con có nghĩ gì không?” Tức thì tôi nắm lấy cái xe hỏa, cầm đưa cho Prêcôtxi và nói:

- Anh cầm lấy. Của anh đấy.

Anh không hiểu, nhìn tôi. Tôi nhắc lại:

- Của anh đấy. Tôi biếu anh đấy!

Anh sửng sốt nhìn cha mẹ tôi và hỏi tôi:

- Nhưng, sao anh lại cho?

Cha tôi đỡ lời:

- Enricô cho em vì em là bạn thân, vì Enricô yêu em... và để mừng tấm bội tinh của em!

Prêcôtxi hỏi một cách thật thà:

- Thưa ông, con có thể mang về nhà được?

- Được lắm, em ạ!

Anh Garônê liền gói chiếc xe vào mùi soa giúp anh.

Mẹ tôi cho mỗi anh một gói kẹo và gài khuy áo cho anh Garônê một túm hoa nhỏ để đem về tặng mẹ anh.


Về Đầu Trang
Dư khánh



Ngày tham gia: 24 Oct 2007
Số bài: 433

Bài gửiGửi: Tue May 09, 2017 12:34 pm    Tiêu đề: TÂM HỒN CAO THƯỢNG (tiếp theo)


31.- MỘT KẺ TÙ-PHẠM

Thứ hai, ngày 13

Sáng qua, tôi theo cha tôi ra ngoài châu-thành, thăm một khu biệt-trang cha tôi định thuê để nghỉ mát trong vụ hè tới. Người giữ chìa khóa nhà này trước làm giáo-học. Ông đưa chúng tôi đi xem khắp nơi rồi mời chúng tôi vào phòng giải khát.

Trên bàn, gần cốc chúng tôi có một cái lọ mực bằng gỗ hình chóp nón, chạm-trổ rất kỳ-quái. Thấy cha tôi ngắm mãi lọ mực, ông giáo bảo cha tôi:

- Đấy là một kỷ-niệm rất quí-báu của tôi. Nếu ông biết rõ gốc tích, ông cũng phải cho là hiếm có.

Cha tôi bảo:

- Ông làm ơn kể lại cho tôi nghe.

Ông liền thuật lại như sau:

- Cách đây mấy năm, khi ông còn làm việc ở Tuy-Ranh ông phải cử vào đề-lao dạy tù suốt một mùa đông. Ở đấy có một phòng cao hình tròn, chung quanh tường trổ nhiều cửa sổ vuông rào sắt. Sau mỗi cửa sổ là một buồng giam. Giáo-sư đi-đi lại-lại trong phòng để giảng bài; các tù phạm ngồi sau cửa sổ tì vở vào trấn song biên chép, để lộ trong bóng tối những khuôn mặt gầy-gò thiểu-não, những chòm râu phờ rối và lốm-đốm hoa râm, những con mắt tráo trưng của những quân ăn cắp và giết người.

Trong bọn, có một người đeo số 78 là chăm chú hơn cả. Hắn thích học và nhìn thày bằng đôi mắt đầy vẻ kính trọng và biết ơn! Hắn còn trẻ, tóc rậm, râu đen, trước kia làm thợ mộc, trong lúc cãi nhau đã vớ chiếc bào ném vào đầu chủ chết tươi. Vì thế hắn bị 6 năm tội-đồ.

Trong vòng ba tháng, hắn đã biết đọc, biết viết. Hắn chăm đọc sách lắm, hắn càng học được bao nhiêu thì hình như hắn càng sửa mình và tỏ ý hối-hận về việc đã làm.

Một hôm, lúc gần hết giờ, hắn ra hiệu mời giáo-sư lại gần cửa sổ và buồn-rầu báo cho giáo-sư biết hôm nay hắn sẽ phải đổi đi đề-lao thành Vơ-ni (1). Sau mấy lời từ-biệt cảm-động, hắn xin giáo-sư cho phép hắn sờ tay... Giáo-sư chìa tay, hắn nâng lấy vừa hôn vừa nói “Cảm ơn thày” rồi chạy mất. Khi giáo-sư rút tay ra thì thấy bàn tay đẫm nước mắt.

Từ đó, giáo-sư không nhìn thấy người học-trò ấy nữa.

Giáo-sư nói tiếp:

- Sáu năm qua. Tôi mãi làm ăn và cũng không rỗi công nghĩ đến người tù khốn-nạn ấy. Bỗng sáng nay, có một người lạ mặt, quần áo rách-rưới, chòm râu lốm-đốm, đến hỏi tôi:

- Thưa ông. chính ông là thày giáo Mỗ...

Tôi hỏi lại:

- Bác là ai?

Người lạ mặt đáp:

- Tôi là tên tù số 78, người mà thấy đã dạy cách đây 6 năm và sau bài cuối cùng, thày đã vui lòng giơ tay cho tôi... Nay hết hạn tù, tôi đến kính biếu thày vật mọn này chính tay tôi làm trong khi ở nhà lao... Thưa thày, gọi là một chút để tỏ lòng nhớ ơn, xin thày nhận cho!

Tôi đứng im, người khách khốn-nạn kia tưởng tôi từ-chối, hắn liền nhìn tôi một cách tha-thiết, như ngụ ý hỏi:

- Sáu năm đau-khổ chưa đủ chuộc được danh-dự sao?

Thương tình người “học-trò lao tù” cũ, tôi nhận vật này.

Giáo-sư cho chúng tôi xem lọ mực. Người tù đã dùng đầu cây đinh để trổ và đã dụng tâm lắm mới được thế! Tôi nhìn thấy hình “cái bút nằm tréo trên quyển vở” và những chữ này:“Kính tặng giáo-sư của tôi. - Kỷ niệm của tên 78 - Sáu năm.”

Dưới cùng có hàng chữ nhỏ:“Học-hành và hy-vọng.” Kể xong, giáo-sư cũng không giữ chúng tôi nữa và để chúng tôi về.

Đi đường, óc tôi chỉ vẩn-vơ nghĩ đến người tù nấp sau phên sắt, đến lời hắn từ-biệt thày giáo và đến cái lọ mực chạm tỉ-mỉ trong đề-lao, cái công-trình này đã gợi ra cho tôi biết bao nhiêu là chuyện!... Đêm nằm tôi cứ mơ đến và sáng hôm sau tôi vẫn còn tưởng đến. Nào tôi có ngờ đâu một câu chuyện ngẫu-nhiên nó đợi sẵn tôi ở ngoài trường! Khi làm xong bài Toán, tôi kể chuyện người tù và tả lại cái lọ-mực gỗ cùng những câu ghi-khắc vào đó cho anh Đỗ-Sinh nghe. Anh giật nẩy mình rồi lần lượt nhìn anh Xuyên và tôi.

Anh Xuyên, con bà bán hoa-quả rong, ngồi ghế trên, lúc ấy đang mải làm tính.

Đỗ-Sinh nắm chặt cánh tay tôi và bảo nhỏ:

- Suỵt! Sáng nay anh Xuyên khoe với tôi rằng cha anh mới ở Mỹ-Châu về, có cái lọ-mực gỗ, hình chóp nón, ngoài khắc vở và bút... Đúng cái lọ-mực anh vừa nói rồi!... Sáu năm lại hợp với thời-gian mà cha anh đi vắng, đi sang Mỹ, anh thường nói thế. - Thì ra ông ta đã ngồi tù! - Hồi Tòa kết án, anh Xuyên còn bé không biết, nên mẹ anh cố giấu chuyện ấy. Vậy ta không nên đả động việc ấy nữa và phải trọng sự không biết của anh.


Chú-thích:

    (1) Venise

Giải nghĩa:

    Tù-phạm: người phạm tội bị tù.

    Biệt-trang: biệt thự, khu nhà ở xa thành phố.

    Kỳ-quái: gở lạ, quái lạ.

    Tội-đồ: bị giam, bị đầy đi nơi khác.

    Từ-biệt: từ-giã, chia tay nhau để lên đường.

    Ngẫu-nhiên: tình-cờ.

    Thời-gian: khoảng thì-giờ.





THÁNG HAI

32.- LÀM KHÁN-HỘ CHO CHA

(Câu chuyện hàng tháng)

Một buổi sáng về tháng Ba, giữa cơn mưa gió, một cậu bé nhà quê, quần áo ướt-át và đầy bùn, tay xách gói đồ, đến bệnh-viện thành Náp-pờ (1) và đưa cho người gác cổng phong thư.

Cha cậu làm thợ ở Pháp về, khi tàu tới bến bỗng thụ bệnh phải vào nhà thương, chỉ kịp viết mấy chữ về nhà. Được tin, mẹ cậu buồn rầu khôn xiết! Trong nhà, mẹ già thì tàn-tật, con trẻ thì thơ ngây, bà không sao đi được, đành sai cậu là con cả đi thăm và cho vài đồng để uống nước. Cậu phải đi bộ 10 cây số.

Nhìn qua lá thư, người gác cổng nhờ một viên y-tá đưa cậu đến phòng cha cậu.

Viên y-tá hỏi:

- Cha em là ai?

Cậu nói tên cha.

Viên y-tá không nhớ tên ấy và hỏi:

- Có phải ông thợ già ở ngoại-quốc mới về không?

Cậu đáp:

- “Thợ” thì phải, nhưng không “già”. Cha tôi mới ở Pháp về.

- Cha em vào đây được bao lâu?

Cậu bé xem lại thư đáp:

- Độ năm hôm nay.

Viên y-tá nghĩ một lát rồi sực nhớ ra:

- À phải rồi! Tôi nhớ ra rồi! Ở buồng thứ tư, giường trong cùng...

Cậu theo lên tầng gác thứ nhì, qua hành-lang vào phòng ngủ thấy hai dãy giường dài. Đến cuối phòng, viên y-tá đứng lại vén màn trỏ vào giường bảo:

- Cha em đây.

Cậu vứt gói quần áo, tru lên khóc. Cậu gục đầu vào vai bệnh nhân và nắm chặt lấy cánh tay, song bệnh nhân không nhúc nhích.

Cậu đứng dậy nhìn cha rồi lại khóc. Bệnh-nhân hé mắt nhìn cậu hình như hơi nhận ra - nhưng không nói được. Cha cậu chóng già quá. Cậu khó thể nhận ra. Tóc bạc, râu xồm xoàm. Mặt sưng húp, da căng bóng, mắt bé, môi to, thân hình coi rất thiểu-não! Cậu chỉ nhận được cái trán cao và đôi lông mày đen đen của cha thôi. Bệnh nhân thở ì-ạch. Cậu gọi:

- Cha ơi! Con đây! Con là Lan đây! Cha không nhận ra con sao? Con ở quê ra, mẹ sai lên thăm, cha không nói gì à?

Bệnh-nhân nhìn kỹ cậu, rồi mắt lại nhắm nghiền.

Đến giờ bác-sĩ đi khám, cậu hỏi:

- Thưa bác-sĩ, cha con mắc bệnh gì?

Bác-sĩ vỗ vai cậu, đáp:

- Con cứ yên tâm, cha con bị chứng đan độc. Bệnh tuy nặng song ta không thất-vọng. Con cố trông-nom cho cha con. Nhìn thấy con ở đây, cha con sẽ đỡ được đôi phần.

Cậu thất-vọng nói:

- Nhưng cha con không biết gì.

- Rồi cha con sẽ biết. Con hãy vững lòng.

Thế rồi, cậu bắt đầu làm người khán hộ cho cha. Cậu luôn tay làm những việc lặt-vặt, lúc kéo chăn, khi đuổi ruồi, lúc sờ trán, khi cầm tay cha.

Đêm đến, cậu ngủ trên hai cái ghế ghép liền nhau; ban ngày cậu lại làm việc bổn-phận.

Bốn ngày qua. Bệnh cha cậu khi thăng khi giảm, không nhất-định.

Sáng ngày thứ năm, bệnh-tình bỗng sinh nguy-kịch. Lúc ấy, độ 4 giờ chiều, cậu đang lo-lắng âu-sầu, chợt nghe bên ngoài có tiếng giày đi và tiếng người đàn ông nói:

- Kính chào bà, chúng tôi xin về.

Nghe tiếng người ấy, cậu rùng mình từ đầu đến chân và đứng thẳng dậy như bị máy giật.

Người ấy đi trước bà phước, qua buồng cậu, tay xách túi đồ.

Khi trông thấy người ấy, bỗng cậu bé rú lên một tiếng và đứng ngay như tượng.

Người ấy quay lại nhìn cậu rồi cũng kêu to:

- Kìa! Thằng Lan!

Cậu bé chạy lại ôm choàng lấy cha. Mọi người thấy thế đều lấy làm lạ.

Cậu xúc động quá không nói nên lời. Sau khi nhìn bệnh-nhân, cha cậu hôn cậu và hỏi:

- Không hiểu sao người ta lại dẫn con đến giường người khác! Mà cha thì đỏ mắt mong con vì mẹ con viết thư nói đã sai con ra đây. Thương hại cho con quá! Con ở đây được mấy hôm rồi? Sao lại nhầm được đến như thế nhỉ? Thôi, nhờ trời cha đã lành mạnh, nay cha xin ra. Vậy con sắp sửa để cùng về...

Cậu bé đáp:

- Cha khỏi rồi! Con sung-sướng quá! Nhưng con không thể bỏ ông già mà con đã săn-sóc từ mấy hôm nay. Kìa! Cha coi ông ta đang nhìn con hình như muốn gọi con. Con không đành lòng bỏ ông ấy. Hôm nay, ông ấy trở bệnh. Con xin phép cha cho con về sau...

Viên y sinh đứng đó khen:

- Cậu em thật giàu lòng từ-thiện!

Cha tôi hỏi viên y sinh:

- Thưa ngài, bệnh-nhân là ai thế?

Viên y sinh đáp:

- Ông ta cũng làm thợ như ồng và ở ngoại-quốc về, ông ta vào đây cùng ngày với ông. Người ta chở vào đây thì ông ta đã mệt và cấm-khẩu rồi. Ông ta chắc cũng có gia-đình ở xa và có con... Ông ta tưởng cậu em là người nhà ông ta chăng?

Lúc ấy, bệnh-nhân cứ nhìn theo cậu Lan. Người cha bảo:

- Vậy, con cứ ở đây.

Viên y-sinh nói:

- Cậu sẽ chẳng phải ở đây lâu đâu!

Người cha nhắc lại:

- Con cứ ở đây. Cha rất vui lòng thấy con là một đứa trẻ có lòng nhân-ái. Cha về báo tin cho nhà biết, kẻo lại nóng lòng mong đợi.

Cha cậu hôn cậu rồi ra.

Chiều hôm sau, bác-sĩ vào thăm và tuyên-bố bệnh-nhân khó lòng qua được đến mai. Cậu thức suốt đêm ấy để nâng giấc bệnh-nhân. 5 giờ sáng, bà phước vào coi qua bệnh-nhân rồi chạy ra. Lát sau, bác-sĩ đến, xem mạch rồi nói:

- Ông già gần chết!

Cậu Lan dân dấn nước mắt, cầm tay ông già. Ông già bừng mắt nhìn cậu rồi lại nhắm nghiền. Cậu cảm thấy trong phút lâm-chung, ông già đã cố đem hết sức tàn nắm tay cậu, bắt tay cậu...

Lát sau, bác-sĩ lại vào, cúi nghe bệnh-nhân lần nữa rồi ngẩng lên. Cậu hỏi:

- Thưa ngài, ông ấy đã “đi” chưa?

Bác-sĩ đáp:

- Thôi, con về! Việc phúc của con đến đây là trọn. Con hãy sung-sướng đi vì con đáng được sung-sướng!

Bà phước rút nắm hoa tươi trong bình bên cửa sổ, đưa cho cậu và bảo:

- Ta chả có gì cho em cả. Em cầm lấy bó hoa này gọi là chút kỷ-niệm của nhà thương.

Cậu, một tay đỡ lấy bó hoa, một tay lau nước mắt, nói:

- Cảm ơn bà, nhà con xa quá, đem về đến nơi thì héo cả. Con xin mượn bó hoa này để viếng ông già khốn-nạn!...

Nói xong, cậu ngắt những bông hoa rắc lên thi-hài người bất-hạnh.

Đoạn, cậu chào bà phước và bác-sĩ, xách gói quần áo trở ra.

Lúc ấy, vầng đông đã rạng.


Chú-thích:

    (1) Naples.

Giải nghĩa:

    Khán-hộ: viên-chức trông-nom người ốm ở bệnh-viện.

    Bệnh-viện: nhà chữa bệnh, nhà thương.

    Thụ bệnh: mắc phải bệnh.

    Ngoại-quốc: nước ngoài.

    Nguy-lkịch: ốm nặng, nguy đến nơi.

    Cấm khẩu: câm, không nói được.

    Tuyên-bố: nói rõ cho mọi người biết, không giữ kín nữa.

    Lâm-chung: tới lúc cuối cùng, lúc sắp chết.

    Thi-hài: thây và xương, nói chung về xác người chết.

    Bất-hạnh: kẻ gặp số không may.





33.- CHÚ HỀ CON

Thứ hai, ngày 20

Hội Giả-trang gần mãn, thành-phố rất tưng-bừng rộn-rịp. Trên những khu đất công, chỗ nào cũng thấy dựng những rạp xiếc rong và những vòng đua ngựa gỗ. Ngay cửa sổ nhà tôi trông ra, có một rạp xiếc của người Vơ-ni. Họ có 6 con ngựa. Rạp dựng giữa bãi, một góc để ba xe ngựa lớn là nơi các tài-tử ngủ hay đóng bộ để ra trò và ba cái nhà-lăn, hai bên có cửa sổ, trên nóc có ống hơi lúc nào cũng nhả khói xanh. Nhìn qua cửa sổ thấy phơi la-liệt những quần áo và tã của trẻ con, vắt đầy trên dây. Một người đàn bà vừa nuôi con thơ, vừa làm bếp, vừa nhảy dây. Thực là một khổ-cảnh đáng thương! “Trò rong”! Người ta thường nói hai tiếng ấy bằng giọng khinh-bỉ. Nhưng thực ra họ đã kiếm ăn một cách thật-thà, họ đã chịu mọi sự lao-khổ để làm vui cho kẻ khác. Trời rét thế, suốt ngày họ chạy từ rạp về xe và chỉ vận phong-phanh một chiếc áo đan màu hồng. Họ ăn đứng trong những giờ nghỉ, ít khi được ngồi và ăn uống ung dung. Đôi khi rạp đã đầy người, bão nổi, lều bay, đèn tắt, thế là buổi diễn đi đời!

Phường xiếc này có hai đứa trẻ giúp việc. Đứa bé nhất là con của chủ rạp, độ 8 tuổi, coi rất xinh trai, mặt tròn, da xạm, mớ tóc đen tỏa xuống dưới vành mũ nhọn.

Lúc ra trò, em vận một thứ bao màu xanh, hai tay viền đen, chân đi giày vải coi rất ngộ. Em có biệt tài đi ngựa!

Hôm nào cũng thế, sáng sớm chúng tôi đã thấy em đầu trùm khăn vuông đi mua sữa về và dắt ngựa ở chuồng ra. Xong, em bế em nhỏ đi chơi, hoặc xếp-dọn vòng, dây, ghế, bức chắn, hoặc rửa xe, dóm bếp; trừ một vài phút nghỉ ngơi, còn bao giờ nó cũng ngồi bên cạnh mẹ.

Một tối kia, chúng tôi sang xem xiếc. Trời rét quá! Rạp vắng tanh. Chú hề bé-con vẫn hết sức trổ tài để cho dúm khán-giả kia khỏi chán-nản. Chú nhảy lộn trên lưng ngựa, bám đuôi ngựa chạy, đứng bằng hai tay, chân ngược lên trời. Rồi chú hát, chú cười. Bộ mặt xạm nâu của chú đã đoạt được lòng yêu của công-chúng.

Cha chú thì mặc áo đỏ, quần cụt trắng, đi giày ống, tay cầm roi ra lệnh, nét mặt buồn thiu.

Thấy tình-cảnh ấy, cha tôi động mối thương-tâm. Hôm sau, có họa-sĩ Đệ-Liên lại chơi, cha tôi nói chuyện:

- Những người ấy làm được lấy chết mà kiếm chẳng được mấy đồng tiền! Thương hại thay thằng bé con kháu và ngoan quá! Ta có thể giúp đỡ họ được việc gì không?

Họa sĩ ngỏ một ý-kiến rất hay:

- Bác là nhà báo, viết cho họ một cột trong tờ “Tân-văn”. Bác kể lại những hành tích tốt và tài nghệ của em bé. Còn tôi, tôi sẽ vẽ hình em bé. Ở đây, ai ai cũng đọc báo “Tân-văn”, chắc sẽ được đông người đến xem.

Nói xong, thi-hành ngay. Cha tôi đăng một bài rất hứng-thú, nhắc lại những điều chúng tôi đã thấy qua cửa sổ, khiến ai nghe cũng muốn vuốt ve cậu tài-tử bé con. Ông Đệ-Liên phác-họa hình em bé rất giống và có duyên. Báo lên khuôn ngay chiều thử bảy. Thế rồi, buổi diễn tối chủ-nhật, công-chúng kéo nhau đi xem đông như nước chảy. Người ta nêu trong báo là “Cuộc diễn làm phúc cho chú hề tí hon! ”.

Cha tôi đưa tôi vào ngồi hạng nhất. Tờ “Tân-văn” in hình cậu bé dán ngay ở cửa vào. Rạp đầy người, nhiều khán-giả tay cầm tờ báo, chỉ cho nhau đâu là cậu tài-tử; còn cậu thì hết chạy đến chỗ người này, lại chạy sang ghế người khác, hớn-hở vô cùng! Ông chủ rạp hôm nay trông cũng “tươi” lắm, vì ông không ngờ được có cái vinh-hạnh ấy và từ ngày đi diễn trò đến giờ, chưa từng có báo nào nhắc đến phường ông cả!

Cha tôi ngồi cạnh tôi. Trong hàng khán-giả tôi nhận thấy nhiều người quen.

Cuộc diễn bắt đầu. Chú hề đi ngựa, lộn đu và leo dây, tuyệt hay! Hết mỗi trò lại một tràng pháo tay nổ khắp rạp.

Còn nhiều trò khác như leo dây, múa rối, đi cầu, đánh vòng, nhưng trò nào không có cậu bé là công-chúng buồn.

Lúc gần tan tôi thấy ở cửa vào có người nói thầm với chủ rạp. Chủ rạp trông vào cử-tọa như muốn tìm ai. Bỗng ông ta để ý đến chúng tôi. Cha tôi hiểu ngay là họ đã tìm ra ký-giả bài báo hôm trước. Muốn miễn mọi sự cảm ơn, cha tôi khẽ bảo tôi:

- An ơi! Con ngồi xem cho hết. Ta đợi con ở cổng.

Rồi cha tôi lén ra trước.

Chú hề sau khi nói chuyện với cha lại chạy vào làm trò.

Đứng trên mình ngựa đang phi, cậu thay đổi quần áo bốn bận và lần-lượt hiện ra: người du-lịch, lính thủy, lính tập, người múa võ! Mỗi vòng đi qua cậu lại liếc mắt nhìn tôi.

Khi diễn xong, cậu xuống ngựa, ngửa mũ đi quanh vòng diễn. Ai nấy đều ném tiền, ném kẹo cho cậu. Tôi cầm sẵn hai đồng đợi, song khi đến chỗ tôi, cậu bỏ qua và giơ mũ cho người khác. Tôi bực quá! Sao hắn lại có cái cử chỉ vô-lễ thế!

Mãn trò, chủ rạp thiết-tha cảm ơn khán-giả. Công chúng kéo ra. Tôi bị ép trong bọn, đang tìm lối ra, bỗng thấy có người kéo tay tôi. Tôi quay lại thì ra cậu hề, nét mặt tươi cười, tay cầm nắm kẹo. Tôi hiểu ý ngay.

Cậu bé nói:

- Cậu cầm lấy nắm kẹo của thằng hề ăn cho vui.

Tôi không từ-chối và cầm ba, bốn chiếc.

Cậu bé nói tiếp:

- Cậu nhận cả cái hôn này nữa!

Tôi giơ má đáp:

- Cho tôi hai cái!

Cậu liền quệt tay trái lên mặt đầy phấn xong ôm cổ tôi hôn hai cái thật kêu và nói:

- Em gửi cậu một cái về cho ông!


Giải nghĩa:

    Giả-trang: ăn mặc giả dạng, trá hình, đây nói một ngày mà những người dự cuộc đều ăn-mặc thay hình đổi dạng, để chơi đùa hoặc làm trò cho vui.

    Nhà lăn: một thứ xe, do ngựa kéo, trong có đủ chỗ ăn chỗ nằm như một cái nhà nhỏ.

    Ngộ: rất lạ.

    Khán-giả: người xem.

    Ý kiến: cái sở-kiến của ý mình.

    Hành-tích: việc làm có công, khác với chữ thành tích là kết quả.

    Tài-nghệ: cái giỏi, cái hay trong nghề.

    Thi-hành: đem việc đã định sẵn mà làm ra.

    Hứng thú: nghe thấy làm thích.

    Phác-họa: vẽ qua loa, vẽ phác ra.

    Vinh-hạnh: vẻ vang và may-mắn.

    Cử-tọa: tất cả những người ngồi xem.

    Ký-giả: người viết bài trong tờ báo.

    Cử chỉ: các điệu đi đứng và hành-động của người ta.





34.- NGÀY CUỐI CÙNG HỘI GIẢ-TRANG

Thứ ba, ngày 22

Hôm nay lúc xe “trá-hình” đi qua, chúng tôi đã mục-kích một tấn kịch buồn, nhưng kết-cục được vô sự. Nếu không, đã xảy ra một tai-họa.

Nơi công-trường “Thánh Thượng Tư” hôm nay trang hoàng rất rực-rỡ, hai bên chật ních những người đợi xem đám rước đi qua.

Nửa giờ sau, bỗng tiếng hò-reo vang-động một góc trời, người ta thấy một đoàn mặt nạ kéo đến, vừa đi vừa làm trò, coi rất ngộ-nghĩnh, và không thể nhịn cười được. Kế đến những xe trá hình: Xe nào cũng cắm cờ kết hoa và mỗi cái kết một hình: nào cối xay, tàu thủy, nào rạp hát, nhà lầu v.v.. Trên xe chứa nào hề, nào đầu bếp, nào lính thủy, nào kẻ chăn cừu. Thực là một hình-trạng hỗn-tạp làm rối mắt mọi người! Rồi thì kèn thổi, tù-và rúc, thanh-la khua, như xé màng tai. Các ông tài-tử trên xe uống rượu, bát nghêu. Lắm lúc hết trò, các ông quay ra thét mắng những người xem và những kẻ tò-mò ở trong cửa sổ ló đầu ra. Bị chọc tức họ nhao-nhao cãi lại. Đồng thời một trận mưa hoa và kẹo do người ta ném lẫn nhau, bay phơi-phới, đám rước còn dài, xa trông chỉ thấy cờ bay phất-phới, lông mũ lung-lay và những đầu người lắc-lư dưới những cái mũ nhọn khổng-lồ.

Người ta có thể nói rằng: Đó là một đội người điên!

Đoàn xe đang diễn, tôi nhận thấy chiếc xe tứ-mã rất tráng-lệ, lưng ngựa phủ vải thêu kim-tuyến và chưng những tràng hoa rất rực-rỡ. Trên xe có 14, 15 người trá hình thành những vị quí-phái của Triều-đình Pháp ngày xưa: đầu đội mũ tam-giác, tóc giả chấm vai, mình mặc áo thêu, chỉ vàng lóng-lánh, vai dính băng thủy ba, sườn đeo gươm sáng loáng. Họ đồng-thanh hát một bài tiếng Pháp và ném kẹo cho công-chúng; ai nấy đều vỗ tay hoan-nghênh.

Chợt thấy bên tay trái chúng tôi có một người đàn ông giơ một đứa con gái 4, 5 tuổi lên trời và chạy theo xe của các vị công-hầu của vua Lộ-y thứ 15. Em bé gào khóc giẫy giụa. Một vị quí-phái quay lại nhìn. Người đàn ông nói:

- Xin ngài làm phúc giữ lấy em bé này, nó lạc, không tìm thấy mẹ. Ngài ẵm nó trong tay, mẹ nó ở xa sẽ nhìn thấy. Không còn kế gì hơn nữa.

Vị quí-phái liền bế lấy đứa bé, các ông bạn đồng-hành thôi không gào hát nữa. Đứa bé khiếp quá, giãy đành-đạch. Vị quí-phái liền rứt bỏ mặt nạ ra và cho xe đi thong-thả.

Trong lúc ấy có một người đàn-bà ở đầu phố chạy điên cuồng, rối rít, miệng kêu:

- Tý ơi! Tý ơi! Con tôi lạc rồi! Người ta bắt con tôi rồi! Người ta xéo chết con tôi rồi!

Bà kêu gào như thế đã hơn một khắc đồng-hồ mà vẫn không tìm thấy con.

Bỗng trên xe có tiếng nói to:

- Các ông, các bà tìm hộ xem mẹ em bé này ở đâu?

Nghe tiếng, bà ta chạy sầm lại, kêu lên một tiếng vừa mừng, vừa bực và giơ hai tay run lẩy-bẩy chực vồ lấy con.

Xe dừng. Vị quí phái nói:

- Con bà đây!

Nói xong, vị quí-phái hôn đứa bé và trao cho mẹ nó. Bà ta ôm chặt con vào lòng, mừng-mừng tủi-tủi... Vị quí phái kéo tay cô bé lại, rút chiếc nhẫn kim-cương của mình đeo vào ngón tay tí hon em bé và nói:

- Của hồi-môn em bé đây!

Bà mẹ sững người trong khi công-chúng vỗ tay khen.

Vị quí phái lại đeo mặt nạ vào, các bạn trên xe lại hát một bài bằng tiếng Pháp, chiếc xe tứ-mã lại chuyển bánh trong đám công-chúng hoan hô nhiệt-liệt.


Giải nghĩa:

    Trá hình: ăn mặc giả hình.

    Công trường: nơi đất công để mở những cuộc vui khi có hội hè.

    Hình dạng: dáng bộ và cảnh tượng.

    Hỗn tạp: lẫn lộn, không có thứ tự.

    Tứ-mã: xe bốn ngựa.

    Tráng lệ: to tát, đẹp đẽ.

    Công-hầu: tước công và tước hầu, nói chung những người tước to trong triều đình.

    Đồng-hành: người cùng đi với mình.

    Hồi-môn: nói của-cải, đồ-đạc của người con gái đem về nhà chồng lúc cưới; ý nói cái nhẫn quí ấy sẽ thêm vào của hồi môn cô bé sau này để làm kỷ-niệm.

    Hoan-hô: vui mừng hò reo.

    Nhiệt-liệt: nóng-nẩy, hăng-hái.





35.- NHỮNG TRẺ EM MÙ

Thứ năm, ngày 24

Thày giáo chúng tôi mệt, nên cụ giáo lớp Nhì xuống dạy thay. Cụ trước đã dạy qua trường trẻ em mù. Cụ là bậc kỳ-cựu nhất trong giáo-giới ở đây, tóc trắng như bông. Cụ nói giỏi và biết nhiều. Thoạt vào lớp, cụ trông thấy một em học-trò một mắt phải đắp bông. Cụ liền lại gần hỏi thăm và khuyên rằng:

- Con phải cẩn-thận về đôi mắt lắm mới được!

Nhân dịp, anh Đỗ hỏi cụ:

- Thưa cụ, có phải trước cụ đã dạy ở trường trẻ em mù không?

Cụ đáp:

- Phải, ta dạy đấy đến 5, 6 năm.

Anh Đỗ nói sẽ:

- Thưa cụ, cụ cho chúng con nghe qua chuyện trường ấy.

Cụ vào bàn-giấy ngồi. anh Tư mau miệng nói:

- Thưa cụ, “trẻ mù”, con biết rồi! Trường “trẻ mù” ở phố Nit-sơ (1) ạ!

Cụ nói:

- Các con nói tiếng “mù” bằng giọng rẻ-rúng cũng như các con nói đến những tiếng “ốm đau” hay “nghèo-khó”. Các con có hiểu rõ “mù” là thế nào không? “Mù” nghĩa là suốt đời không nhìn thấy gì! Suốt đời không phân-biệt ngày đêm, không nhìn thấy vũ-trụ, thấy mặt trời, thấy cha mẹ, thấy cảnh-vật ở chung quanh mình và những đồ vật mình cầm đến! Suốt đời phải chìm đắm trong cõi tối-tăm vô-tận, khác nào như bị vùi sâu trong ruột quả đất!

Các con thử nhắm mắt lại và tưởng-tượng nếu các con bị như thế trọn đời thì nỗi đau khổ của các con sẽ đến mực nào? Ta quả-quyết rằng các con sẽ cảm thấy một sự áp-bức đau đớn, một sự khủng-bố không chịu đựng được. Các con sẽ phải phát ra những tiếng kêu tuyệt-vọng...

Thế nhưng... khi người ta bước chân vào trường “kẻ mù” lần thứ nhất, trong lúc giờ chơi, khi người ta nghe tiếng cười câu nói ồn ào, trông thấy kẻ lên gác, người xuống thang, kẻ qua hành-lang, người vào phòng ngủ một cách tự nhiên và vững-vàng thì không ai bảo đó là những kẻ không nhìn thấy ánh sáng mặt trời! Muốn hiểu họ một cách tường tận hơn, ta phải để tâm xét họ về mọi phương-diện.

Đây là những kẻ thanh-niên chừng 16, 18 tuổi khỏe-mạnh và mau mắn, họ đã cam chịu mệnh trời và tỏ vẻ dửng-dưng, nhưng coi nét buồn trên mặt họ; ta có thể đoán trước khi ngậm đau, họ đã phải vật lộn với sự thống-khổ biết là dường nào?

Đây là những người hiền-lành, sắc mặt xanh-xao lộ vẻ nhẫn-nhục âu-sầu, khiến ta có thể tưởng-tượng rằng đôi phen họ đã âm-thầm rỏ lệ. Các con ơi! Các con nên biết rằng một phần đông trong những người xấu-số ấy đã hỏng mắt trong một thời gian rất ngắn, cũng có người phải đeo bệnh lâu năm và chịu những giờ mổ cắt rất đau đớn rồi mới mù.

Đây là những người lọt lòng ra đã phải sa vào một cái đêm không bao giờ có buổi bình-minh. Họ ra đời như là bước vào một cõi âm-ti thăm-thẳm mà ở đó họ không phân-biệt được một hình, một sắc gì.

Các con thử tưởng-tượng nếu họ so-sánh đời tối đen của họ với đời của những người sáng thì họ khổ tâm đến thế nào! Chắc họ phải nghĩ rằng:

- Tại sao lại có sự chênh lệch ấy? Chúng ta có làm gì nên tội?

Cụ giáo nói tiếp:

- Ta, ta đã ở lâu bên trẻ mù. Ta nghĩ đến một lớp toàn những con mắt nhắm và con người chết, rồi ta lại nhìn các con, ai nấy đều có đôi mắt long-lanh như ngọc, lòng ta không thể im-lặng, không bảo các con rằng: “Các con toàn là những người sung-sướng! ” “Các con hãy nghĩ đến: riêng một nước Ý ta có tới hai vạn sáu nghìn người mù. Hai vạn sáu nghìn! Các con đã nghe rõ chưa?”

Cụ giáo nói dứt lời. Đỗ-Sinh đứng lên hỏi:

- Thưa cụ, có phải người mù có cái xúc-giác linh-lợi hơn người sáng không?

Cụ đáp:

- Phải đấy, tất cả những giác-quan khác của người mù đều linh-mẫn cả vì những giác-quan ấy đã được rèn-luyện hơn người thường để thay cho thị-giác. Sáng dậy, một học sinh trong buồng ngủ hỏi bạn:

- Hôm nay trời có nắng không?

Một người hoạt-bát nhất trong bọn họ vận áo, ra giữa sân giơ tay khua khí trời xem có ấm không, xong chạy vào báo tin:

- Trời nắng.

Nghe tiếng nói của một người, họ có thể đoán được tầm-vóc của người ấy. Ta xét đoán những người chung quanh bằng luồng mắt của họ, những người mù lại xét đoán theo tiếng nói. Họ nhớ giọng nói của người quen hàng bao nhiêu năm không quên. Trong phòng nếu có đông người, họ biết ngay, dù chỉ có một người nói còn những người khác ngồi im. Họ chỉ lấy tay sờ mà biết một chiếc thìa có sạch hay không?

Những con gái lại có tài phân-biệt thứ len nhuộm với thứ len không. Khi xếp hàng đôi đi trong phố, những trẻ mù chỉ ngửi mà biết gần khắp các cửa hàng. Chúng cũng chơi đánh quay, nhờ tiếng vù-vù, chúng biết của ai hơn kém và nhặt con quay của mình rất trúng.

Chúng cũng nhảy dây và nhảy cũng khéo như những trẻ sáng. Chúng hái hoa đồng-thảo như người trông thấy.

Chúng may áo, dệt chiếu, đan thúng rất nhanh. Xúc-giác là thị-giác thứ hai của chúng, vì thế khi chúng được sờ, được nắn và đoán hình-thể của các đồ-vật thì chúng lấy làm thích lắm.

Anh Phi giơ tay lên xin phép hỏi:

- Thưa cụ, có phải người mù học tính nhanh hơn người khác không?

Cụ đáp:

- Phải đấy. Không những học tính, những trẻ mù còn học đọc nữa. Sách của chúng có những chữ nổi, chỉ đưa qua ngón tay lên mặt chữ là chúng nhận được và đọc rất nhanh. Chúng cũng tập viết nữa. Chúng dùng những cái dùi thép nhấn trên những tờ giấy dầy thành những nét chấm trũng. Những điểm ấy học theo bản tự-mẫu riêng. Nhưng chấm trũng ấy nổi sang mặt giấy bên kia thành chữ. Học-trò viết xong chỉ phải lật trang giấy lấy tay sờ chữ mà nhận được tự-dạng của nhau. Chúng cũng làm bài thi và viết thư cho nhau. Chúng viết chữ số và làm tính theo lối nói trên, nhưng về khoa tính nhẩm thì chúng mẫn-tiệp một cách lạ thường, ta không thể tưởng-tượng được, đó cũng là vì chúng không đãng trí bởi những sự-vật quanh mình như ta.

Không những thế, chúng lại còn thính tai nữa. Bốn năm người ngồi một ghế, không cần phải quay sang nhau, người thứ nhất có thể nói chuyện với người thứ ba, người thứ nhì nói với người thứ tư, bốn người đều nói cùng lúc và nói to cả, thế mà chúng nghe được không sót một câu nào.

Chúng chăm lo về các bài thi hơn các con và chúng yêu-quí thày giáo hơn các con nhiều. Chỉ nghe tiếng giày hay ngửi hơi là chúng nhận được các thày giáo. Chỉ nghe giọng nói là chúng đoán được thày vui hay buồn, khỏe hay ốm. Được thày vuốt ve hoặc vỗ-về thì chúng sung-sướng lắm: nhiều khi chúng nắm chặt lấy tay và cánh tay thày để tỏ dấu biết ơn.

Những học-trò mù thường yêu nhau lắm và ở với nhau rất trung-thành vì tình hữu-ái đã đem lại cho chúng bao nhiều mối an-ủy và xẻ bớt cho chúng bao nhiêu nỗi sầu-trường.

Anh Tiên hỏi:

- Thưa cụ, những học-trò mù chơi âm-nhạc có khá không?

Cụ đáp:

- Chúng mê âm-nhạc lắm. Âm-nhạc có thế ví như bản-mệnh và hạnh-phúc của chúng. Những trẻ mù mới vào trường không bao giờ chán nghe người khác đánh đàn hay thổi sáo. Chúng học chóng lắm và đem hết tâm-hồn vào nhạc-nghệ. A! Giá mà các con nghe thấy tiếng đàn của trẻ mù, giá mà các con được trông thấy chúng mặt ngẩng, miệng cười đầy vẻ cảm-động và khát-khao, lắng nghe bạn đang rọi một tia sáng trong cõi tối-tăm vô-tận mà chúng phải đầy-đọa vào, lúc ấy con sẽ hiểu âm-nhạc đối với chúng là một mối an-ủy rất nhiệm mầu.

Cấm chúng đọc sách hay cấm chúng chơi âm-nhạc là một sự phạt rất nặng. Chúng sẽ đau đớn vô cùng, vì thế không ai có cái can-đảm phạt chúng như thế. Tóm lại âm-nhạc đối với con tim chúng cũng như ánh sáng đối với con mắt ta.

Anh Đỗ nói tiếp:

- Thưa cụ, người ngoài có thể vào xem trường trẻ em mù được không?

Cụ đáp:

- Sao lại không? Hiện giờ các con còn bé, ta không muốn cho các con đi. Nhưng một mai, các con đến tuổi hiểu được nỗi thống-khổ của kẻ mù, đến tuổi biết động lòng trắc-ẩn vì mối thương-tâm chính-đáng, lúc đó các con sẽ nên đi.

Các con ơi! Thực là một cảnh tưởng bi-ai! Các con hãy trông kia là những trẻ ngồi trong cửa sổ nửa khép, nét mặt an-tĩnh, thở hít khí lành, hình như chúng đang nhìn ra khoảng đồng ruộng non xanh mà ta ai nấy đều nom rõ... Nhưng khi ta nghĩ đến chúng không trông thấy và không bao giờ được trông thấy những phong-cảnh ngoạn-mục kia thì lòng ta se lại, khi ấy tựa hồ như ta là một kẻ đui mù!

Kẻ nào sinh ra mù sẵn thì nỗi khổ cũng giảm được đôi chút vì nó không biết những thứ nó thiếu-thốn. Nhưng về phần những trẻ mới mù vài tháng nay, chúng còn ghi gói và hiểu nhớ những thứ mà chúng đã mất. Những trẻ này còn đau đớn gấp trăm lần hơn những trẻ nói trên, là vì mỗi ngày chúng thấy hình-ảnh của những người thân-yêu mờ dần trong trí óc. Một trẻ em, một lần đã thốt ra một câu ai nghe thấy cũng phải cảm-động.

- Lạy trời cho tôi được mở mắt một phút thôi, để tôi nhận lại mặt mẹ tôi mà tôi quên mất rồi!

Đã bao nhiêu người vào thăm trường này, lúc ra phải lau nước mắt. Khi từ biệt chúng, ta tưởng tạo-hóa đã biệt đãi ta vì ta được hưởng cái đặc-ân là được nhìn thấy mọi người, nhìn thấy nhà cửa, nhìn thấy trời đất! Hãy thương những trẻ mù. Các con ơi! Hãy thương chúng là kẻ có mặt trời mà không được nhìn ánh-sáng, có mẹ mà không rõ từ nhan!


Chú-thích:

    (1) Nice.

Giải nghĩa:

    Kỳ-cựu: người già, người cũ.

    Giáo-giới: gọi chung những viên chức thuộc ngạch học-chính.

    Vũ-trụ: trời đất, thế giới.

    Áp-bức: đè nén, bắt phải theo.

    Tuyệt-vọng: mất hết hy vọng.

    Thống-khổ: sự đau đớn, khổ-sở.

    Bình-minh: lúc phần đêm sang phần ngày, lúc rạng đông.

    Âm-ti: người mê-tín nói chỗ hồn người chết ở, âm phủ.

    Xúc-giác: cái cảm giác sinh ra bởi tay tiếp xúc với vật, tức là sự sờ.

    Linh-mẫn: mau mắn và sáng-suốt.

    Giác-quan: chủ quan về sự tri giác, trong thân thể: mắt, tai, mũi, lưỡi, da là cơ quan của năm giác quan.

    Thị giác: cái cảm giác sinh ra bởi mắt tiếp xúc với vật, tức là sự trông.

    Hoạt-bát: hoạt động, lanh lợi.

    Đổng-thảo: thứ có lá tròn hoa tím và thơm (tiếng Pháp gọi là violette).

    Tự-mẫu: những chữ cái dùng để chắp thành các âm (a, b, c, y.. là những tự-mẫu).

    Tự-dạng: hình dáng chữ viết.

    Mẫn tiệp: siêng năng và nhanh nhẹn.

    Trung-thành: lòng ngay thẳng, thực thà, lòng thành-thực.

    Hữu-ái: bè bạn thân yêu nhau.

    Sầu trường: lòng sầu-muộn.

    Âm-nhạc: nói chung về đàn hát.

    Bản-mệnh: mệnh sống của mình.

    Nhạc-nghệ: nghề đàn hát, nghề âm-nhạc.

    Trắc-ẩn: lòng bất nhẫn, lòng thương xót.

    Ngoạn-mục: đẹp mắt ưa nhìn.

    Biệt-đãi: tiếp đãi một cách khác người thường.

    Đặc-ân: ơn riêng.

    Từ nhan: nét mặt của mẹ.


Về Đầu Trang
Dư khánh



Ngày tham gia: 24 Oct 2007
Số bài: 433

Bài gửiGửi: Wed May 10, 2017 9:08 am    Tiêu đề: TÂM HỒN CAO THƯỢNG (tiếp theo)


THÁNG BA

36.- LỚP HỌC TỐI

Thứ năm, ngày mồng 2

Hôm qua, cha tôi dẫn tôi ra trường để xem lớp học tối. Khi chúng tôi đến thì đèn các lớp đều thắp sáng trưng và học-trò đang lục-tục kéo đến.

Ông hiệu-trưởng đang bực-tức vì có người vừa ném đã vào vỡ mất miếng kính. Người gác cổng chạy xổ ra và bắt được một đứa trẻ, nó kêu khóc và cãi không phải mình.

Anh Đinh, nhà ở trước cửa trường, thấy thế liền chạy sang và bảo người gác cổng:

- Không phải em bé này đâu. Chính thằng Phan-Tín nó ném, mắt tôi trông thấy. Nó dọa nếu mách nó sẽ đánh tôi, song tôi không sợ.

Người gác cổng buông ngay đứa bé kia và ông hiệu-trưởng bảo cha tôi rằng mai ông sẽ thẳng tay đuổi Phan-Tín ra, không thể dung-thứ được nữa.

Tôi chưa được xem lớp học tối bao giờ. Thực là một cảnh-tượng rất hứng-thú.

Trong trường có tới 200 người thợ đủ các hạng tuổi, từ trẻ con 12, 13 tuổi cho đến những người lớn đã có râu, đi làm về, đến để học thêm, nào thợ mộc, nào thợ nề, nào thợ máy, nào thợ sơn, v.v... Trong bọn có cả mấy người lính pháo-thủ do viên cai dẫn đến.

Cửa các lớp để ngỏ. Giờ học bắt đầu. Nhìn vẻ chăm-chú của các “ông học-trò” ngồi nghe giáo-viên dẫn giảng, tôi rất lấy làm thán-phục! Tôi thấy chỗ thì mấy người cầm vở lên bàn giấy hỏi nghĩa lại, chỗ thì 4, 5 người thợ quây-quần một giáo-viên đang chấm bài. Thày giáo trẻ nhất trường tôi mà, chúng tôi đặt tên là “Tiểu-luật-sư” cũng có mặt ở đấy. Tôi thấy thày chìa quyển vở loang-lổ những vết đỏ, vết xanh cho cậu học-trò thợ nhuộm xem và cười...!

Trong bọn thợ học tối nay, cũng có nhiều người chưa kịp về ăn cơm nên trông có vẻ mệt-nhọc.

Mấy em bán bánh vào học được độ nửa giờ thì gục xuống bàn ngủ. Giáo viên lại gần lấy đuôi bút lông ngỗng sẽ quệt vào má để đánh thức các em. Còn những người lớn thì chú-ý lắm, mắt đăm-đăm nhìn giáo-viên cắt nghĩa: người ta có thể nghe được tiếng ruồi bay.

Tôi rất lấy làm đắc-ý trông thấy những người lớn ngồi vào chỗ chúng tôi. Nếu chúng tôi bắt chước được như những người thợ ấy, ngồi im-lặng học, chăm-chú thì thích biết dường nào!

Chỗ tôi ngồi là một người trẻ tuổi có râu ria, có lẽ là người thợ máy vì người ấy bị thương ở một ngón tay bên phải còn quấn bông; tuy nhiên, người ấy cũng cố viết nắn-nót như các người khác!

Thực là một tấm gương nhẫn-nại cho tôi.

Còn chỗ “chú phó nề” thì buồn cười quá! Tôi thấy cha chú ngồi. Ông phó người to lớn ngồi vào chỗ con khi hẹp quá, nên có vẻ “câu thúc” nhưng ông ta thích thế vì ông ta đã xin phép ngồi vào chỗ thân-yêu ấy!

Cha tôi và tôi đứng ngoài xem cho đến lúc mãn giờ. Đó cũng là một bài học thực-hành cho tôi, một bài học dạy về “ý-tứ” về “cử-chỉ” rất có ích lợi.

Ở cửa trường có nhiều bà ẵm con đến đón chồng. Thấy cha ra, đứa bé giơ tay theo, người cha bế lấy và hôn một cách rất yêu-dấu. Còn bà vợ thì cầm đỡ sách vở cho chồng và giục:

- Nhanh lên! Cái ăn nguội cả!

Họ đi từng toán về nhà. Phố-xá đông đúc và rộn-rịp một lúc rồi lại yên-lặng, vắng-tanh. Tôi chỉ còn nhìn thấy bóng ông hiệu-trưởng trường tôi đi lừ-thừ ra vẻ mệt-nhọc.

Ông là người đến sớm nhất và cũng là người về sau rốt. Ông hiệu-trưởng đáng tôn-quí ấy, thực là một người cúc-cung tận-tụy với nghề!

Trông gương học-trò tối trước, sáng nay tôi cố ngồi im và hết sức chăm-chú khiến ông Bích-Niên phải lấy làm lạ và để ý đến tôi.


Giải-nghĩa:

    Lục-tục: kế tiếp nhau.

    Dung-thứ: khoan-thứ, rộng tha cho.

    Thán-phục: khen và chịu là giỏi.

    Tiểu-luật-sư: thầy kiện bé nhỏ.

    Đắc-ý: được như ý, thích ý.

    Nhẫn-nại: chịu nhịn quen.

    Câu-thúc: bắt buộc, bó buộc không tự-do cựa quậy được.

    Cúc-cung: tận-tụy, cặm-cụi, khó nhọc để làm tròn nghĩa-vụ.





37.- ĐÁM ĐÁNH NHAU

Chủ-nhật, ngày mồng 5

Phan-Tín bị đuổi rắp tâm trả thù anh Đinh. Nó đứng đợi ở đầu phố, là lối anh Đinh thường đón em học ở trường Nữ-học Đỗ-Xá về để gây chuyện. Thúy-Hoa, em tôi, thấy đám đánh nhau sợ hãi chạy một mạch về nhà không đợi tôi.

Việc xảy ra như sau này:

Phan-Tín, đội mũ cát két lệch che cả tai, gión-gién theo sau anh Đinh; tới nơi, nó liền cầm đuôi tóc em gái anh Đinh giật thật mạnh để sinh sự. Cô bé bị kéo giật một cách bất ngờ ngã lăn ra đất. Anh Đinh quay lại thấy Phan-Tín, giận quá sấn lại đánh luôn, không sợ nó vừa to vừa khỏe hơn. Vì thế, anh Đinh bị đánh trả rất đau. Trong phố lúc bấy giờ chỉ có toàn học-trò con gái nhỏ không ai là người lớn để gỡ chúng ra.

Hai đứa trẻ đánh nhau kịch-liệt, anh Đinh đổ cả máu mũi, nhiều lần bị ngã, lại cố đứng dậy chống-đỡ. Cuối cùng hai đứa vật lộn nhau trên mặt đất, anh Đinh hết sức bình-sinh vật ngửa được Phan-Tín ra và lấy đầu gối đè lên ngực. Một tiếng bên ngoài kêu:

- Chết chửa thằng khốn-nạn nó rút dao!

Anh Đinh biết thế liền cắn mạnh vào cánh tay Phan-Tín làm cho con dao rơi ra.

Mọi người chạy lại gỡ và lôi chúng dậy. Bị công-chúng sỉ-vả, Phan-Tín chạy thẳng. Đứng giữa bãi chiến-trường, anh Đinh tuy mặt đầy máu, mắt sưng húp, nhưng thắng trận. Cô em đứng khóc bên cạnh. Mấy cô học-trò nhặt hộ sách vở rơi tung tóe trên hè. anh Đinh thu thập sách vở bỏ cặp, lấy khăn chùi mặt rồi dắt em về.

Mọi người đều tấm tắc:

- Không sợ kẻ mạnh hơn mình, bênh vực cho em như thế, thực đáng khen thay!


Giải-nghĩa:

    Kịch-liệt: dữ-dội.

    Bình-sinh: trong đời mình.

    Công-chúng: đông người, hết thảy mọi người.

    Sỉ-vả: mắng-nhiếc.





38.- NGƯỜI TÙ SỐ 78

Thứ tư, ngày mồng 8

Hôm qua tôi đã được mục-kích một tấn kịch cảm-động.

Đã mấy hôm nay, mỗi khi bà hàng quả đi qua là bà nhìn anh Đỗ-Sinh một cách rất yêu quí, vì từ khi anh Đỗ khám-phá ra câu chuyện “người tù số 78 với cái lọ mực gỗ”, anh liền đem lòng thân-yêu anh Xuyên là con người tù nói trên và là một trẻ mắc bệnh bại tay. Anh giúp anh Xuyên trong khi làm bài hoặc trả lời, anh cho anh Xuyên giấy, bút và bút chì, tóm lại, anh coi anh Xuyên như em để đền bù lại những nỗi đau-khổ của người cha lao-tù mà anh Xuyên không biết.

Bà mẹ anh Xuyên là một người rất thương con, nay thấy có cậu bé học-trò đầu lớp để tâm dắt-díu con mình thì lòng bà cảm-mộ vô cùng.

Bà cứ nhìn anh Đỗ chòng-chọc như muốn thổ-lộ điều gì song không dám nói ra.

Mãi đến sáng hôm qua, bà giữ anh Đỗ ở gần cổng trường và nói rằng:

- Xin lỗi em, em là một người rất tốt đối với em Xuyên, con tôi. Không lấy gì tạ lòng em được, gọi là có chút quà này biếu em, em nhận cho.

Nói xong, bà rút trong thúng ra một hộp bọc giấy vàng.

Anh Đỗ đỏ mặt, lắc đầu từ-chối:

- Bà để dành cho anh Xuyên, tôi không dám nhận.

Bà hàng quả có vẻ ngượng-ngùng, xin lỗi:

- Xin em đừng giận. Đây là gói kẹo nhỏ biếu em thôi.

Nhưng anh Đỗ ra vẻ khó chịu quay mặt đi.

Bà kia rụt-rè bó củ cải trong thúng ra nói:

- Thôi, ít nhất em cũng nhận cho bó cải này, còn tươi nguyên, để đem về biếu bà...

Anh Đỗ cười đáp:

- Cảm ơn bà! Tôi không muốn nhận gì cả. Tôi sẽ hết lòng đỡ anh Xuyên mãi-mãi và không bao giờ tôi lại nhận một vật gì bà cho. Cảm ơn bà!

Bà kia có ý ân-hận, hỏi:

- Tôi làm em mếch lòng sao?

Anh mỉm cười đáp:

- Thưa bà, không phải thế.

Rồi anh đi. Bà Xuyên lẩm-bẩm:

- Thực là một tấm lòng vàng! Tôi chưa từng thấy một trò em nào lại giỏi-giang và đứng đắn như em này!

Ai cũng tưởng thế là thôi; nhưng đến chiều, vào khoảng 4 giờ, đang lo gặp bà hàng quả thì anh Đỗ lại phải chạm trán cha anh Xuyên đã đợi sẵn ở cổng trường nét mặt buồn rầu tư-lự. Ông ta giữ anh Đỗ lại, thái độ luống-cuống hình như ông ta biết anh Đỗ hiểu rõ chuyện bí-mật của mình. Ông nói bằng giọng âu-yếm:

- Cậu yêu em Xuyên lắm. Tôi không rõ tại sao cậu lại đem lòng thương em?

Anh Đỗ mặt đỏ như gấc, lòng anh như muốn bảo rằng:

- Tôi yêu anh Xuyên vì anh ấy khổ-sở, vì chính ông, ông cũng là người khổ-sở hơn là kẻ tội-nhân, vì ông đã chuộc tội rồi, vì ông còn chút lương-tâm...

Nhưng cổ anh nghẹn-ngào vì anh không đủ can-đảm phát ra câu nói.

Thực ra, anh cảm thấy một sự hãi-hùng, một sự ghê-tởm đối với một kẻ sát-nhân, một kẻ đã ngồi 6 năm tù!

Nhưng dù anh chẳng nói ra, cha anh Xuyên cũng đoán được cả. Ông lại gần anh, giọng run-run, ông nói nhỏ bên tai anh:

- Cậu yêu em, nhưng cậu không ghét, không khinh cha em chứ?

Đỗ-Sinh vội trả lời:

- Không. Không bao giờ có thế!

Kẻ tội-nhân hai tay chực ôm lấy anh, nhưng lại dụt lại, đành lấy tay vuốt-ve món tóc đỏ của anh rồi nước mắt chạy quanh, tự để hai ngón tay lên môi gửi cho anh một cái hôn. Rồi hai cha con dắt nhau về.


Giải-nghĩa:

    Khám-phá: tìm ra, dò xét ra.

    Lao-tù: kẻ bị tù tội gian-lao.

    Cảm-mộ: cảm-mến.

    Thổ-lộ: bày rõ.

    Bí-mật: kín-đáo, không lộ ra ngoài.

    Lương-tâm: lòng lành của người sẵn có.

    Sát nhân: giết người.





39.- TRƯỚC NGÀY 14 THÁNG BA

Thứ hai, ngày 13

Hôm nay, ngày 13 tháng Ba, trường tôi có vẻ rộn-rịp, vì mai là ngày phát phần thưởng cho các học-trò tại nhà hát Việt-Tô, một ngày hội lớn nhất trong năm học. Năm nay những trò em cử lên sân-khấu trình danh-sách học sinh được phần thưởng cho các quan chức phải lựa chọn kỹ-càng.

Sáng nay, ông hiệu-trưởng vào lớp bảo chúng tôi:

- Ta báo cho các con biết một tin mừng!

Rồi ông gọi:

- Cát-Tây đâu?

Cậu bé xứ Cát-Lạp (1) đứng dậy.

- Mai con có muốn cầm sổ tên học sinh được thưởng trình các vị thân hào ở nhà hát không?

Cậu bé xứ Cát-Lạp thưa “có”.

Ông hiệu-trưởng nói:

- Tốt lắm! Thế là ta sẽ có một Đại-biểu của xứ Cát-Lạp. Thành-phố năm nay muốn rằng: 10 hay 12 trò em đệ danh-sách và phần thưởng cho các quan chức phải là người thuộc các tỉnh khác nhau trong nước Ý và chọn trong các trường công ở thành-phố Tuy-Ranh (2). Ở đây, ta có 20 trường chính, 5 trường phụ với 7 nghìn học sinh. Như thế, sự lựa chọn cũng không khó gì.

Trường Đại-Sách đã tìm được hai đại-biểu ở đảo: một là dân Sác-Đe (3), một là dân Si-Xin (4). Trường Ích-Hữu đã cử một cậu người xứ Phờ-Lô-Răng (5) là con một người thợ chạm. Trường Mỹ-Tư-Kha cho cậu La-Mã (6), mấy trường nữa đã tìm được những cậu ở Vơ-Ni (7), ở Lom-bác-Đi (8), ở Rô-man (9). Trường Mông-Vi trình cậu người Náp-pờ (10) là con một sĩ-quan; còn trường Ba-Lệ-Tư ta cử một cậu thành Giê-nơ (11) và một cậu xứ Cát-Lạp. Như thế kể cũng hay đấy chứ? Nghĩa là toàn-thể anh em ở tất cả các tỉnh trong nước Ý đến đưa phần thưởng. Khi các cậu đại-biểu lên sân-khấu trình-diện, các con phải chú-ý và phải hoan-hô. Tuy là trẻ con thực, nhưng chúng thay mặt cho cả quê-hương chúng thì khác gì người lớn. Một cái băng tam-tài nhỏ kia có phải là biểu-hiệu của nước Ý cũng như lá cờ lớn không? Các con hãy tiếp rước các bạn đại-biểu cho nồng-nàn để tỏ rằng cái trái tim mười tuổi, trái tim non-nớt của các con cũng biết phấn-khởi trước hình-ảnh thiêng-liêng của Tổ-quốc!

Nói xong, ông hiệu-trưởng ra, thày giáo chúng tôi mỉm cười nói thêm:

- Cát-Tây nhớ chưa? Con sẽ là ông nghị-viên của xứ Cát-Lạp đấy!

Chúng tôi đều vỗ tay reo cười. Khi ra phố, chúng tôi xúm lại kẻ ôm chân, người kiệu Cát-Tây lên vai và hò reo khác nào như người ta hoan-nghênh một tướng quân thắng trận. Có anh hô:

- Hoan-nghênh ông nghị xứ Cát-Lạp!

Đó là họ đùa chứ không phải là chế-giễu. Họ mừng cho anh Cát-Tây cũng đáng vì anh là một người bạn ai cũng ưa, anh bị kiệu và lôi kéo ra đến đầu phố thì chạm phải một ông mày rậm, râu đen, ông này thấy thế đang đứng cười.

- Cha tôi đấy!

Thấy anh Cát-Tây nói vậy, chúng bạn liền ôm anh trao cho cha anh đỡ lấy rồi giải-tán mỗi người một nơi.


Chú-thích:

    (1) Calabre

    (2) Turin

    (3) Sardaigne

    (4) Sicile

    (5) Florence

    (6) Rome

    97) Venise

    (8) Lombardie

    (9) Romagne

    (10) Naples

    (110 Gênes

Giải-nghĩa:

    Sân-khấu: bục diễn trò trong rạp.

    Danh-sách: sổ biên tên người.

    Thân-hào: những quan-viên và hào-mục trong hạt.

    Đại-biểu: người đứng thay mặt cho người khác.

    Biểu hiệu: dấu hiệu.





40.- LỄ PHÁT PHẦN THƯỞNG

Thứ ba, ngày 14 tháng Ba

Khoảng hai giờ chiều, nhà hát lớn chật-ních những người. Các ghế hạng nhất, hạng nhì, hạng ba, ghế hai bên và trên diễn-đàn đều có người ngồi cả. Trong rạp có tới vài nghìn người: nào các cô, các cậu, các bà, các ông, nào giáo-sư, nào thợ thuyền. Nhìn xuống sân rạp người ta trông thấy một lớp đầu và tay dao-động, một trào lông mũ rập rờn, một làn dải mũ, tóc tơ phất-phới và những tiếng rì-rầm vui-vẻ khiến lòng ta hớn-hở vô cùng.

Trong rạp treo những tràng hoa kết theo sắc cờ rất rực-rỡ. Ở nhạc sở người ta đã đặt thêm hai bậc lên xuống: bên phải là lối học sinh được thưởng lên đàn, bên trái là lối xuống. Trên sân-khấu, người ta đặt một dãy ghế bành nệm nhung, trên lưng ghế giữa có treo một vòng hoa nguyệt-quế. Bên cạnh là một cái bàn phủ thảm xanh, trên bày la-liệt sách vở buộc bằng những dải tam-tài đẹp đẽ quá khiến các cậu học-trò nhìn bằng đôi mắt thèm muốn.

Ban nhạc vẫn ở chỗ ngày thường, nghĩa là đối diện với sân-khấu. Các thày giáo, các cô giáo đứng chật chỗ đầu hành-lang là nơi đã dành sẵn. Sau ban nhạc có hơn trăm em bé ngồi trên những chiếc ghế dài giúp việc hát, mỗi em cầm một bài hát trong tay. Các giám-thị đi-đi lại-lại quanh phòng để giữ trật-tự và xếp học-trò. Ở dẫy cuối cùng, mấy bà đang nắn mũ, áo cho con.

Đúng hai giờ, âm-nhạc bắt đầu. Đồng-thời, người ta trông thấy ông Thị-trưởng, ông Quận-trưởng, ông Đốc-học và nhiều vị khác vận lễ-phục mầu thâm lên đàn, ngồi vào những ghế đỏ. Khi các tân khách yên-vị và ban nhạc dứt bài thì một nhạc-sư, tay cầm đũa nhịp đứng dậy ra hiệu cho các em bé hát. Các em bé đứng lên đồng-thanh hát một bài rất là hùng-tráng. Cử-tọa đều lắng tai nghe và ra chiều cảm-động. Hát hết bài, công-chúng vỗ tay nhiệt-liệt.

Cuộc phát phần thưởng bắt đầu. Thày giáo cũ tôi, ở lớp Tư, tóc đỏ mắt sáng, bước lên sân-khấu giữ việc đọc danh-sách các học sinh trúng giải. Người ta nóng lòng đợi xem 12 cậu giữ việc dâng sách cho các quan khách. Các báo đều đăng tin 12 người ấy sẽ là 12 em quê quán ở khắp các tỉnh trong nước.

Chợt người ta thấy đoàn đại-biểu xếp hàng đi đến và lanh-lẹn bước lên sân-khấu, rồi 12 em đại-biểu đứng quay mặt ra, em nào cũng tươi tỉnh, nhưng hơi có vẻ ngượng-nghịu. Cử-tọa, chừng ba nghìn người đều đứng cả dậy, tiếng vỗ tay và tiếng hoan-hô nổi lên như sấm. Các em bé càng bối-rối.

Tôi nhận ra ngay anh Cát-Tây, đại-biểu xứ Cát-Lạp, mặc y-phục đen như mọi ngày. Một ông Hội-viên thành-phố ngồi cạnh chúng tôi, quen mặt mấy em đại-biểu khác bèn chỉ dẫn cho mẹ tôi nghe:

- Em bé tóc đỏ kia là đại-biểu thành Vơ-ni, em lớn tóc quăn kia là đại-biểu thành La-Mã. Còn em bé nhất quàng cái băng xanh là đại-biểu thành Phờ-lô-Răng.

Trong bọn 12 em, có hai, ba em ăn mặc sang-trọng, còn những em khác tuy là con nhà thợ thuyền nhưng cũng ăn vận sạch-sẽ và chỉnh-tề.

Các em xếp hàng một và diễu qua ông Thị-trưởng, một giáo-sư đứng cạnh xướng danh; nghe mỗi tên thì ông Thị-trưởng lại hôn một em:

- Phờ-lô-Răng (1), Náp-pờ (2), Bô-Lô-nhơ (3), Pa-lec (4)...

Mỗi em đi qua trên đài, quan khách lại vỗ tay một loạt. Các em đại-biểu diễu xong ra đứng cả lên bên cạnh bàn sách. Thày giáo bắt đầu xướng tên trường, tên lớp và tên các em được thưởng. Các em lần-lượt lên sân-khấu, coi rất đẹp mắt.

Một bài âm-nhạc êm-ái dịu-dàng ở trong buồng trò phát ra, nghe tựa như những tiếng âu-yếm của các bà mẹ, các thày giáo và các cô giáo đang rủ-rỉ khuyên-lơn, khích lệ con em.

Những em được thưởng lần-lượt lại chỗ các quan-trưởng và các vị thân-hào để lĩnh thưởng, mỗi lần trao sách, các ngài đều nói với các em một câu âu-yếm hoặc xoa đầu tỏ ý thân-yêu. Mỗi khi thấy những em còn bé mà được phần thưởng to hay những em nghèo mà chiếm phần thưởng danh-dự hay những em bé quá lên đàn cuống quít không biết đi đâu hoặc vướng chân vào mép thảm bị ngã, thì công-chúng lại vỗ tay và cười reo rất vui-vẻ!

Bây giờ đến lượt trường chúng tôi. Trước tiên tôi thấy gọi tên anh Quyết-Tư. Hôm nay anh ăn mặc mới từ đầu đến chân, nét mặt nở-nang, nụ cười tươi-thắm để lộ đôi hàm răng trắng như ngà. Biết đâu sáng nay anh lại không vác củi đỡ cha mẹ. Ông Thị-trưởng vỗ vai anh hỏi tại sao trên trán anh lại có vết đỏ. Tôi đưa mắt nhìn cha và mẹ anh ngồi ở sân rạp thấy hai người bưng miệng cười. Thứ nhì là anh Đỗ-Sinh. Anh mặc bộ áo xanh thẫm, cúc kền sáng nhoáng, người mảnh-dẻ, bộ thanh-nhã trán cao, làn tóc đỏ tỏa xuống hai vai; coi xinh-xắn quá chừng, ai trông thấy cũng phải yêu. Các vị đều nắm tay hỏi han. Kế thày giáo gọi:

- Dư-Biên!

Người ta thấy cậu con quan Ba pháo-thủ chống nạng lên đàn. Người ta hỏi nhau và biết ngay nguyên-nhân cái tai-nạn đã xảy ra cho cậu, tức thì một tràng pháo tay nổ ran làm chuyển động cả rạp. Các ông thì đứng cả dậy, các bà thì vẫy mùi-soa, nhao-nhao cả rạp khiến cậu Biên bối-rối và cảm-động run cả người đứng ỳ giữa sân-khấu... Ông Thị-trưởng kéo cậu lại gần, hôn cậu, xong lấy vòng hoa nguyệt-quế treo ở lưng ghế mắc vào đầu cái nạng cậu cầm ở trước ngực. Xong quan Thị-trưởng đưa cậu lại chỗ cha cậu ngồi ở hàng ghế thứ nhì, cha cậu liền đỡ cậu vào chỗ ngồi. Cử tọa đều vỗ tay khen ngợi.

Ban nhạc vẫn cử những bài êm-ái du-dương. Các học sinh vẫn kế tiếp lên đàn lĩnh thưởng. Đây là học-trò trường La-Đại, phần nhiều là con nhà buôn-bán. Đây là học-trò trường Vân-Lan, con cái thợ-thuyền. Nọ là trường Ích-Hữu, phần nhiều là con nhà làm ruộng. Cuối cùng là trường La-Nhi.

Phần thưởng phát xong, một trăm cậu học-trò ở sân rạp lại đồng-thanh hát nghe rất hùng-hồn. Đoạn ông Thị-trưởng đọc một bài diễn-văn ngắn. Ông Đốc-học nói tiếp:

- Các con ơi! Trước khi ở đây ra về, các con không được quên không để lời kính chào và lời cảm ơn những người đã chịu bao nỗi khó-nhọc vì các con, những người đã hy-sinh tất cả tâm-trí cho các con, những người đã sống vì các con và sẽ chết vì các con, đó là những vị đang đứng ở bên cạnh các con đấy!

Ông Đốc vừa nói vừa chỉ sang chỗ các thày giáo và các cô giáo đứng. Cảm-động về lời hiệu-triệu ấy, mấy nghìn đứa trẻ đứng lên một loạt và giơ tay về chỗ các giáo-viên. Các thày và các cô đều vẫy mũ, vẫy tay để trả lời và có vẻ bùi-ngùi về sự biểu-lộ chân-tình của lũ trò em.


Chú-thích:

    (1) Florence

    (2) Naples

    (3) Bologne

    (4) Palerme

Giải-nghĩa:

    Dao-đông: lung lay, lay động.

    Trào: làn nước bể dâng lên; đây là lớp, làn.

    Nguyệt-quế: thứ cây thuộc về loại trúc-đào là dài và dày, hoa vàng hoặc trắng. Cành nguyệt-quế là biểu hiệu sự đắc thắng, sự thành công.

    Giám-thị: viên chức chuyên trông coi công việc và trật tự trong một trường sở nào.

    Nhạc-sư: thày dạy âm-nhạc.

    Đồng-thanh: cùng cất tiếng một lúc, mọi người đều hát cả.

    Hùng-tráng: to tát mạnh mẽ.

    Y-phục: quần áo, đồ mặc.

    Quan-trưởng: các quan, các bậc trên.

    Hùng-hồn: mạnh mẽ, trôi chảy.

    Diễn-văn: bài văn đọc trước công-chúng để giải-bày ý kiến mình, bài diễn thuyết.

    Hiệu-triệu: đòi gọi, triệu tập.

    Biểu-lộ: tỏ ra, bày ra ngoài.


Về Đầu Trang
Trình bày bài viết theo thời gian:   
Gửi bài mới   Trả lời chủ đề này    TRUNG HỌC DUY TÂN - PHAN RANG -> Truyện Dài Thời gian được tính theo giờ GMT - 4 giờ
Trang 1 trong tổng số 1 trang



 
Chuyển đến 
Bạn không có quyền gửi bài viết
Bạn không có quyền trả lời bài viết
Bạn không có quyền sửa chữa bài viết của bạn
Bạn không có quyền xóa bài viết của bạn
Bạn không có quyền tham gia bầu chọn


    
Powered by phpBB © 2001, 2005 phpBB Group
Diễn Đàn Trung Học Duy Tân