TRUNG HỌC DUY TÂN - PHAN RANG TRUNG HỌC DUY TÂN - PHAN RANG
Nơi gặp gỡ của các Cựu Giáo Sư và Cựu Học Sinh Phan Rang - Ninh Thuận
 
 Trang BìaTrang Bìa   Photo Albums   Trợ giúpTrợ giúp   Tìm kiếmTìm kiếm   Thành viênThành viên   NhómNhóm   Ghi danhGhi danh 
Kỷ Yếu  Mục Lục  Lý lịchLý lịch   Login để check tin nhắnLogin để check tin nhắn   Đăng NhậpĐăng Nhập 

Những Chuyện Huyền Diệu Trên Hy Mã Lạp Sơn

 
Gửi bài mới   Trả lời chủ đề này    TRUNG HỌC DUY TÂN - PHAN RANG -> Tâm Linh
Xem chủ đề cũ hơn :: Xem chủ đề mới hơn  
Người Post Đầu Thông điệp
nhungocnguyen



Ngày tham gia: 22 Nov 2011
Số bài: 890

Bài gửiGửi: Sun Apr 13, 2014 7:55 pm    Tiêu đề: Những Chuyện Huyền Diệu Trên Hy Mã Lạp Sơn

Tác giả Thinh Quang

Tạng Thư Phật Học


Những Chuyện Huyền Diệu Trên Hy Mã Lạp Sơn


 TÔN GIÁO VÀ THỊ TỘC RA ĐỜI SAU MỘT THỜI GIAN DÀI KỂ TỪ KHI LOÀI NGƯỜI XUẤT HIỆN.. Lúc bấy giờ con người sống thành từng bầy, lấy đá làm thành những công cụ lao động, đào bới, trồng trọt, chặt phá...săn bắt thú rừng, hái lượm hoa quả v.v...  Con người của thời cổ đại còn có hình thù như các loài vượn, tiếng nói còn đơn giản để truyền tin cho nhau... Nhưng rồi... là một loài vốn tối linh hơn muôn vật, dần dà qua những hoạt động vì nhu cầu cần thiết, tự cải biến và từ từ hoàn thiện. Trí thông minh phát triển, con người biết tìm ra lửa. Từ đó nền văn minh "lửa"xuất hiện; loài người bắt đầu ăn đồ chín, biết sưởi ấm mùa đông, biết sử dụng lửa để chống trả hay đề phòng thú dữ...

         Kể từ đó tính đến ngày nay đã từ ba đến bốn chục ngàn năm dẫn đến sáu ngàn năm... trải qua một quá trình lắm chông gai khắc khổ,trí tuệ mở mang hơn, nhìn lên tận trên mây xanh biết đó là trời, nhìn xuống nơi mình đang đứng biết đây là đất, chung quanh là núi non trùng điệp,xa xa là sông ngòi,xa hơn nữa là bể cả mênh mông... Những hiện  tượng sóng gào, gió thét, những tảng đá ven đường v.v... tất cả những thứ đó là các thần linh được Đấng Tối Cao sai xuống ngự trị trần gian kiểm soát các hành động của con người dưới thế, thay uy trời mà thưởng phạt phân minh: Người làm điều thiện thì khen thưởng chỉ cho con đường về Cội Phúc, kẻ làm điều ác thì đưa vào Địa Ngục...

         Cũng kể từ đó loài người sống theo tổ chức thị tộc: Biết quan hệ huyết thống, chống lại quan hệ tạp hôn... nương tựa lẫn nhau mà sống. Trí tuệ dần dà phát triển, tận dụng sức lao động, phát triển trí thông minh... Tôn Giáo và Nghệ Thuật cũng đồng thời xuất hiện đem lại những thành tựu nhất định. Chính sự chuyển biến sang xã hội thị tộc cùng một lúc hình thành con người Homo Sapiens, đó là con người hiện đại hay nói khác là con người khôn ngoan tân cổ...

          Rồi 400 năm Tr.CN trên dòng lưu vực sông Nil của xứ sở Ai Cập, một Nhà Nước sơ khai... hình thành có vị vua Pharaon đầu tiên ra đời...  Cũng 4000 Tr CN, các thành thị bắt đầu mọc ra ở đồng bằng Tigre và Euphrate... giống người Urbaidians ở Lưỡng Hà xuất hiện... Rồi 3000 đến 2000 Tr.CN sự phát triển được xem là thịnh đạt vào giai đoạn Cổ vương quốc ở Ai Cập, nơi được xem là rất thịnh đạt về mọi mặt, nhất là về mặt nghệ thuật và cấu trúc cho mãi đến thế kỷ 21 con người mới bắt đầu đi vào vũ trụ chuẩn bị cho một cuộc ngự trị không gian vẫn còn chưa biết người Ai Cập cổ xưa làm thế nào mà xây được Kim Tự Tháp - một trong bảy kỳ quan của thế giới cổ đại?!

         Từ năm 3000 đến 1900 Tr.CN nền văn minh lưu vực Indus phát triển ngoài sức tưởng tượng của con người, nhiều phố phường xuất hiện như Harappa và Mohenjo - Daeo... đầy đủ tiện nghi... trong đời sống... Đến khoảng 2800 Tr.CN khai sáng ra nền văn minh Minoan đặt theo tên một vì vua huyền thoại... Rồi qua những năm tháng dài theo tuần tự từ Sargon Đại Đế bắt đầu thực hiện chủ nghĩa thực dân chinh phục người Summer, lập nên một đất nước Akkad-Summer cường thịnh...

         Nhà Hạ cũng xuất hiện từ dạo ấy. Đây là triều đại đầu tiên của lịch sử Trung Hoa v.v... Sau đó là người Hebreux tức người Do Thái bây giờ có ông vua đầu tiên xâm nhập vào đất Canaan. Kế đến quốc gia Palestine được dựng lên song song với đạo Do Thái hình thành...
       
         Một Thế Vận Hội đầu tiên vào năm 776 Tr.CN tổ chức tại Hy Lạp, bắt nguồn từ sự thi đua nhau rèn luyện thân thể để mong đạt được chức vô địch...Tổ chức này bốn năm một lần thi thố, đầu tiên là tại Olempia tức Olympic ngày nay.
     
         Tóm lại kể từ thời Bàn Cổ mở mang, đời Tam Hoàng cai trị đến đời Ngũ Đế định ra nhân luân và sau đó thì đến năm châu, bốn bể con người sinh sôi nẩy nở, từ chỗ mờ mịt hỗn mang đến khi con người cảm thấy được cái thiện và cái ác mà tự áp đặt đến tính tu trì, kể từ đó mới sinh ra "đạo lớn".
     
         Thời Tùy Đường đúng là thời điểm Phật Giáo tại đất nước Trung Hoa, được đánh giá là thời kỳ cực thịnh. Thời Tùy đã có đến 5.000 ngôi chùa, ngót cả 2.000 bộ kinh được chuyển dịch ra từ chữ Phạn tính ra có đến năm, sáu ngàn quyển...
     
          Đến thời Đường đã có hơn 40.000 ngôi chùa, tăng ni gần cả ba trăm. Tính chùa Phật không thôi, đã có đến hơn nghìn vạn khoảnh đất, số lượng chú tiểu đạt đến con số 150.000... Kinh Phật tính ra ước khoảng 67.000, riêng đời Đường dịch hơn 400 bộ, hơn 200 quyển...  Trong thời gian từ Tùy đến Đường, có đến tám tông phái, đó là:
       
      1. Thiên Thai tông do Trí Khải cầm đầu.
      2. Tam Luận tông do Cát Tạng sáng lập.
      3. Duy Thức tông do Huyền Trang lập ra được đặc biệt chú ý.
      4. Luật Tông do Đạo Tuyên sáng lập.
      5. Hiền Thủ tông do Pháp Tạng.
      6.Thiền Tông do Đạt Ma sáng lập.
      7. Tịnh Độ Tông do Đạo Xước và Thiện Đạo dựng lên.
      8. Mật Tông do ba vị Thiện Vô Úy, Kim Cương Trí và Bất Không... Ba vị Hòa Thượng này là người bên Ấn Độ được người đời lúc bấy giờ gọi là "Khai Nguyên Tam Đạo Sư".
     
         Như trên đã nói một trong các vị cao tăng tiếng tăm lẫy lừng đời Đường là Huyền Trang được mọi người cho là một nhà tu hành đáng ca tụng và nhắc nhở đến nhất.
     
         Phật giáo được truyền vào TÂY TẠNG từ đời nhà Đường. Qua một quá trình lâu dài, Phật giáo tại đây hình thành một "tôn giáo tín ngưỡng riêng của toàn dân Tây Tạng!" Tín ngưỡng đặc biệt cho Tây Tạng lại được chia ra bốn giáo phái. Đó là:
       
      a. Minh Ma phái tục xưng là Hồng giáo.
      b. Tát Già phái, tục xưng là Hoa giáo.
      c. Hạt Cử phái tục xưng Bạch giáo.
      d. Cách Lỗ phái tục xưng Hoàng giáo.
   
         Trong bốn phái này, về sau kể từ đời Minh Thanh mãi đến nay phái Hoàng giáo chiếm địa vị tối cao nắm giữ vai trò chính thống. Như ta thấy các vị Đạt Lai, các Ban Thiền đều thuộc về phái Hoàng giáo này.
       
         Chuyện gì xảy ra nơi Hy Mã Lạp Sơn - nơi dẫy đầy những chuyện huyền bí mầu nhiệm này?!


CHƯƠNG IX


Từ Du Hồn Đến Xuất Hồn

Ra khỏi cửa tiệm bán bánh kẹo, chúng tôi mỗi người theo đuổi ý nghĩ riêng tư của mình. Chẳng ai nói với ai câu nào nữa. Thằng Đề Mộng cũng như Yulgie, mặt mày đứa nào trông cũng lầm lì. Khi đến cuối phố bỗng thằng Yulgie lên tiếng phá tan bầu không khí nặng nề ấy bằng những lời lẽ chê trách về thói đời đen bạc.
         - Lỗ San ơi!  Mày đừng có buồn làm gì về cung cách của anh Du đối xử với mày như thế nữa. Tưởng mày cũng nên biết những kẻ lớn thường xem thường bọn nhỏ như chúng mình. Mày cứ tin lời tao đừng có buồn làm gì nữa. Rồi một ngày kia mày sẽ thấy, tất cả đều đổi khác khi mà chúng mình trở thành Lạt Ma được giao phó giữ một trọng trách nào đó, sẽ thấy các anh "đầu đen" này thay đổi thái độ ngay. Họ sẽ cầu cạnh, nhờ vả hết chuyện này đến chuyện nọ! Không biết mày với thằng Đề Mộng thế nào, chứ tao lúc ấy...bọn "đầu đen" đó đừng hòng được tao ngó mắt chiếu cố đến...
         Thường tại Tây Tạng, người cư sĩ thì được gọi là "đầu đen" còn giữ nguyên vẹn mái tóc trên đầu, các tăng sĩ xuất gia tu hành thì đầu nhẵn láng không  còn lấy một sợi tóc.
         - Bây giờ thì mày nghĩ như vậy, song khi lớn lên, mày trở thành ông Lạt Ma rồi thì...nhất định là mày cũng chẳng nhớ làm gì về cái chuyện của thời thơ ấu ấy nữa...
         Đêm hôm ấy vì đã trải qua một ngày vất vả chúng tôi ngủ một giấc ngon lành! Nếu không nhờ thằng Đề Mộng đánh thức thì tôi có thể bị trễ mất khóa lễ sáng tại thiền viện. Ăn điểm tâm xong tôi ra khỏi phòng tìm gặp Minh Sư.
         Vừa mới ra đến bên ngoài thì đã gặp ngay một nhà sư ú na ú nần lại lùn tịt, ước chừng đầu đuôi không hơn một thước, ăn vận quần áo xốc xếch túm lấy cổ tôi bóp chặt bảo:
         - A ha! Chú mày đây rồi... Tao đi kiếm chú mày từ tờ mờ sáng đến giờ... Hà, mày định trốn chạy đi đâu hả?  Đừng hòng, con ơi!
         Nhà sư lùn tịt này lôi cổ tôi đến nhà bếp của thiền đường, đẩy mạnh tôi đến phía trái cạnh ảng nước, đoạn lớn tiếng ra lệnh:
         - Việc làm đầu tiên của chú mày là phải quét dọn mọi nơi ở nhà bếp này rồi sau đó tao sẽ chỉ cho công việc khác...
         Tôi vội trần tình về công việc tôi sắp phải làm buổi sáng hôm  nay:
         -Thưa đại sư...
         - Chẳng thưa với thốt gì cả... Bắt tay làm công việc tao giao phó đó ngay bây giờ...
         - Nhưng mà...
         Lão sư lùn này trợn tròn mắt lên lớn tiếng :
         - Hả? mày muốn cưỡng lại lời tao hả?
         - Thưa...
         - Thưa với thốt gì nữa? Tao đã bảo làm là phải làm ngay. Biết chưa?
         - Thưa, tôi phải làm việc với Lạt Ma Minh Dà Đông Đạt ngay bây giờ... Không thể làm bất cứ công việc nào khác nữa. Xin Đại sư lượng tình...
         Tôi vừa nói vừa lách mình sang một bên định bụng bỏ chạy trốn ra khỏi khu nhà bếp, nhưng cánh tay hộ pháp của lão còn nhặm lẹ hơn. Lão tóm ngay cổ tôi lôi đến chiếc cối đá to tướng bên cạnh bờ giếng:
         - Không được. Tao đã bảo không được là không được. Tao cóc cần biết mày sắp phải gặp bất cứ người nào... Bây giờ đây tao là tất cả... Mày biết không hỡi thằng nhóc con?
         - Ông ta vừa nói vừa vặn trái cánh tay tôi đau đến đứt ruột đứt gan. Sự đau đớn chạy thẳng lên đến đỉnh đầu và cuối cùng biết không thể nào cưỡng được mệnh lệnh lão nên tôi đành ngoan ngoãn xin buông tha cho để thực hiện công việc của lão giao phó.  
         Tại Tây Tạng chúng tôi bắt buộc làm công việc nặng nhọc hoặc khuân vác, hoặc hầu hạ tạp dịch, hoặc rửa chén bát, quét dọn nhà chùa v.v.. gọi đó là "học khổ hạnh". Mục đích của qui điều "khổ hạnh" này là để rèn luyện cho cả cơ thể con người cho quen đi sự khổ cực và đồng thời tu tập cho tinh thần được lành mạnh... Nhờ vậy mà giới trẻ chúng tôi tại xứ sở Tây Tạng thoát ra khỏi sự ngạo mạn tự cao, tự đại... dễ bị sa vào vòng cạm bẫy!
         Sau khi  quét dọn đâu đó xong xuôi, tôi theo chân nhà sư lùn tịt này xuống hành lang, qua hai cây cầu mà các bậc thang là từng khúc gỗ tròn không lớn không nhỏ, buộc từng khúc vào hai thanh gỗ lớn hơn ép hai bên, dẫn thẳng xuống đến nhà bếp. Vừa xuống đến nơi tôi sực nhớ lại chính tại nơi này đã có lần tôi bị bỏng cả hai bàn chân đến nỗi suýt chút nữa trở thành kẻ tàn tật suốt đời!
         Nhà sư này đẩy tôi đến cái cối đá to tướng đoạn dõng dọc lớn tiếng truyền lệnh:
         - Đấy! Công việc của mày ngay trước mắt là phải cọ rửa cho thật sạch cái cối đá xanh này... rồi sau đó sẽ nhận lãnh công việc khác, nghe rõ chưa? Hả?!
         Tôi cầm lấy cái dùi nhọn cũng bằng đá, trèo vào bên trong lòng cái cối đá to tướng cạy ra từng mảng bột bị khớm bên trong các kẽ đá... Còn nhà sư này vừa đứng cầm cây tăm xỉa răng vừa chăm chú nhìn công việc tôi đang làm...
         Trong lúc tôi đang cặm cụi làm, bỗng nghe có tiếng của một chú tiểu bên ngoài vọng vào hỏi:
         - Lâm Bá ơi! Lỗ San có ở nhà bếp không? Ngài Lạt Ma Minh Dà Đông Đạt muốn gặp hắn đấy...
         Nghe thấy có người gọi tôi vội đứng ngay lên nói lớn cho kẻ nào đó tìm kiếm tôi nghe thấy:
         - Có! Có, có tôi đây! Ai gọi đó?
         Vừa nói vừa leo ra khỏi khỏi lòng chiếc cối đá tôi đang cọ rửa, định bụng bỏ chạy ra tìm người vừa gọi mình, bất thần bị một quả đấm thôi sơn trí mạng của lão Sư khổng lồ này vào ngay đỉnh đầu! Mặt mày tôi tối sầm hẳn lại và ngã lăn quay ngay trên mặt đất.
         Vẫn chẳng buông tha, ông ta còn cúi xuống nắm lấy cổ tôi kéo dậy, nhấc bổng lên  thảy mạnh vào ngay trong lòng chiếc cối đá bên cạnh, như tuồng ném một con gà choai choai vậy.  Đầu tôi  đập mạnh vào ngay cạnh của chiếc cối đá, nghe đánh "bụp" một tiếng, máu me đổ ra lênh láng! Trước mắt tôi lúc bây giờ thấy bừng lên muôn ngàn vì sao loáng thoáng rực sáng rồi từ từ tất cả tắt ngấm đi, thay vào đó là một thế giới đen ngòm trống rỗng...
         Lạ lùng thay! Lúc bấy giờ tôi có cảm giác cả châu thân như bềnh bồng trôi nổi giữa khoảng không gian. Thoạt đầu hình như thân tôi nằm dài theo chiều ngang rồi bất thần đứng thẳng dậy... Văng vẳng bên tai từ đâu đó có tiếng vi vu như tiếng nhạc thoảng lại, và kết hợp với tiếng cồng vang lên rền rĩ... kéo dài mãi ra, rồi cuối cùng chìm vào khoảng trống bao la... mênh mông bất tận...
         Vừa dứt tiếng nhạc như từ cõi u minh vọng đến thì một làn điện xẹt lên xanh rờn... ngoằn ngoèo như con thanh xà chui ngay vào đầu tôi. Tức thời sau đó cả bầu trời trở nên sáng sủa, hiện lên loại ánh sáng vàng vọt không như màu váng sữa, mà là loại ánh sáng có thể nhìn thấy mọi vật thể nhỏ hơn thường lệ.
         - Ôi...chao ôi!  Tôi lẩm bẩm  phải chăng đó là linh hồn ta đã thoát ra khỏi bên ngoài thể xác? Mọi vật thể chung quanh ta sao mà... lạ lùng như thế này?!
         Tôi bỗng nghĩ đến  lời thầy tôi trong một dịp nào đó về sự "chọn lựa" cho mình một đời sống thực vĩnh viễn và trong lành như dòng nước suối chưa hề bị vẩn đục!
         Tôi miên man suy nghĩ. Ta đang sống hay đang say vùi trong giấc ngủ? Không! Sự sống của ta bất thần bị nhà sư kia tước đoạt mất rồi! Thế có nghĩa ta đang đi vào "Cõi Chết"! Giờ phút này tôi đang đứng trước cảnh tượng bị các hình ảnh ma quái vây quanh bách hại... Có điều trong sự nhút nhát tôi còn một chút can đảm là không hề biết sợ "Thần Chết" và cũng không hề nao núng trước cái "lưỡi hái" của ông ta đang cầm trong tay... Có điều thú thật là tôi đang ưu tư về việc đi đầu thai vào một kiếp khác... đầy cả sự ân oán trái ngang! Sự kiện này tôi không thể nào tiên liệu được...
         - Lỗ San! Lỗ San! Chú có làm sao không?
         Ai gọi ta đó? Còn làm sao gì nữa? Tôi đang bay đây...Thật nhẹ nhàng chẳng khác nào chiếc bong bóng đong đưa theo chiều gió. Nhưng mà...ừ, nhưng mà tại sao tôi không nhìn thấy có không gian... Trước mắt giờ phút này cả cái khoảng không gian mênh mông vô cùng đó toàn một vũng đen như mực... Thân hình tôi bay bổng lơ lửng khắp nơi, thỉnh thoảng  cũng có lúc gặp những vũng sáng rực lên từ những ánh hào quang rực rỡ. Chung quang vũng sáng này tôi chẳng còn trông thấy gì cả. Tất cả đều trống rỗng và chính những hình ảnh này khiến tôi  cảm thấy mình đang bị cô đơn bơ vơ, lạc lõng...
         Phải chăng ta đang chết? Đã biết mình đang chết thì rõ ràng là mình đang hiện hữu, còn gắn liền với đời sống. Tôi đang nhờ một ống dây dẫn thức. Thỉnh thoảng tôi còn nhận biết một cách mơ hồ là tuồng như có rất đông đảo người lố nhố đang vây chặt quanh tôi. Phải chăng đó là bóng ma?  Nhất định không phải rồi. Bởi trong đám đông người lố nhố đó, tôi thấy cả thầy tôi, trông vẻ mặt  người lộ vẻ đau buồn ảm đạm. Tôi thấy cả anh Du, nhìn rõ cả thằng Đề Mộng, thằng Yulgie đang khóc sướt mướt bên ngoài cửa ra vào nhà bếp...
         Chẳng lẽ tôi chết thật ư?! Thầy tôi bảo không có hình ảnh của cái chết mà chỉ có sự gặp gỡ cái chết... Đã không có hình ảnh thì làm sao có sự gặp gỡ được? Thầy tôi còn lập luận về tuổi thọ của con người, với người tuổi thọ không giới hạn, có nghĩa là con người có thể trường sinh bất lão nếu họ biết đến với chân lý một cách chân thành.
         Chú Sĩ Cát có lần cũng đã từng nói về "cái chết" với lập luận "Cái chết" thực sự an nghỉ và nó chẳng hề quấy rầy ai. Nếu có sự khuấy động "cái chết" thì âu đó chỉ do sự quấy phá của người sống đối với "nó". Họ gào khóc lên bảo là nó "chết". Họ bỏ nó vào áo quan. Họ chôn cất nó thật trịnh trọng và cho đó là nó đã đi vào thiên cổ, không còn ràng buộc "nó" với sự sống hiện hữu nữa. Nhưng thật ra họ quên rằng nó vẫn sống bằng một hình thức khác mà chính nó, nó cũng không hay biết nữa.
         Không hiểu tại sao tôi cảm thấy mình nhẹ nhõm hẳn lên, phiêu diêu  đây đó. Tôi không còn phải cực nhọc lê người bằng đôi chân  mà thay vì bằng ý nghĩ! Như trường hợp vừa nghĩ đến chú Sĩ Cát, tôi đã bắt gặp ngay chú ấy. Có điều tôi gọi chú, nhưng tuồng như  chú chẳng nghe thấy. Tôi lại nghĩ đến thân mẫu tôi, và cũng như chú Sĩ Cát, bà chẳng thèm đoái hoài gì đến sự hiện diện của tôi cả! Lâu ngày xa cách, giờ trông mẹ tôi đầu tóc bạc phơ, đang nấu bữa ăn chiều.
         Tức thì tôi lao người đến, chỉ trong nháy mắt, tôi đã quì ngay dưới chân người ôm chầm lấy khóc lên nức nở.
         - Mẹ, mẹ ơi! Con đã về đây với mẹ...
         Nhưng, như trên tôi đã nói lên sự kiện tôi gặp chú Sĩ Cát, mẹ tôi chẳng thèm để ý chút nào đến sự hiện diện của tôi. Mẹ tôi hết lảng đi nơi này lại đến nơi khác, tiếp tục làm công việc bếp núc, còn tôi thì bà chẳng hề lưu ý đến. Tại sao?  Phải chăng mẹ tôi đã buồn vì tôi trong bao nhiêu năm xa cách chưa có lần nào về thăm viếng! Nhưng làm sao được tôi đã được chính tay phụ thân tôi mang đến Thiền Viện phó thác cho các đức Lạt Ma trọn đời...Tôi không quyền được quay trở về cho dù cha mẹ tôi có mệnh hệ thế nào chăng nữa...
         Có thể là tôi đã chết! Tôi đinh ninh như vậy! Chính nhà sư "hộ pháp" quật ngã tôi ngay vào cái cối đá to tướng bên cạnh. Lúc bấy giờ tôi có cảm giác tê rần cả châu thân nhưng tuyệt đối không có lấy cảm giác đau đớn nữa!  Toàn thân tôi tê dại và đầu cổ tôi máu me dầm dề chảy khắp cả người. Thoạt đầu chung quanh tôi chỉ toàn là một vũng đen phủ kín. Nhưng dần dà sau đó ánh sáng lờ mờ hiện ra, và tôi phiêu diêu bay đi đây đó. Tôi nhìn thấy ngay tử thi của mình đang nằm sóng soài bên trên tấm thớt của chiếc cối đá mà chính tôi đã kỳ rửa sạch sẽ. Rõ ràng là tôi chết thật. Nhưng tại sao, tôi không trông thấy có "sinh vật ánh sáng" như Minh sư tôi đã nói.  Có thể là tôi chưa chết chăng?
         Trước đây, tôi đã có nhiều kinh nghiệm về du hồn trong tinh thể cảnh giới (Astral Travelling) mà thầy tôi đã truyền đạt.  Tôi đã bay xa ra ngoài trái đất  trong một cuộc thử nghiệm chìm sâu trong giấc ngủ và cũng đã từng đến viếng thăm các đô thị lớn... Nhưng đó chưa phải đúng nghĩa của sự "xuất hồn" ra khỏi xác thân.

         Như tôi đã nói, trước đây tôi đã có nhiều kinh nghiệm về "Du Hồn" trong Tinh Thể Cảnh Giới. Tôi đã bay xa hơn ra ngoài trái đất, chu du trên cả các hành tinh lớn... Nhưng với trường hợp này, đây là lần đầu tiên mới được biết đến chuyện "xuất hồn" ra khỏi xác thân là thế nào?
         Từ trên cao tôi đã nhìn thấy xác thân mình đang nằm co quắp trong chiếc cối đá, mặt mày bê bết cả máu. Tôi có cảm giác là mình đã thật sự không còn sống nữa, nhưng làm sao mà linh thể của tôi vẫn còn nối liền  với cái xác thân bất động này?!
         Tôi đứng sững sờ nhìn vết thương vỡ ra khá lớn ở thái dương, máu từ bên trong chảy ra lênh láng tợ như vòi nước đang phọt ra bên ngoài, chẳng những làm bê bết cả mặt mày, mà còn luôn cả đầu cổ, làm ướt đẫm tấm áo màu xám đậm và luôn cả cái cối xay mà tôi vừa mới hì hục rửa ráy kỳ cọ cho nó...
         Chung quanh tôi lúc bấy giờ có nhiều người bao quanh lại. Tiếng huyên náo mỗi lúc một nhiều hơn. Rõ ràng là mọi người lúc bấy giờ đều tỏ ra tuyệt vọng. Tất cả đều có cùng ý nghĩ là tôi đã thật sự đã chết. Nhưng bỗng dưng đám người này bỗng reo lên vui mừng khi nhìn thấy Minh Sư tôi đang từ ngoài vội vã đi vào. Khi đến trước xác thân tôi, Ngài quì ngay xuống, mặt mày tái xanh hẳn lại bởi một phần vì xúc động, và cũng một phần vì sự giận dữ kẻ đã gây ra cảnh này cho tôi. Sau đó, Người đứng ngay dậy đi thẳng đến trước nhà sư bất nhân này nhìn trân trối vào mặt lão nhưng trong nhất thời chẳng thốt ra một lời nào thống trách!
         Lúc bây giờ quang cảnh chung quanh tôi đều im lặng. Sự im lặng như thể đóng băng lại. Chuyện gì sẽ ra cho nhà sư hung bạo ấy?  Mọi người hiện diện nơi đây đều cùng có ý nghĩ như vậy.  Đôi mắt sáng quắc của Người phóng đến ngay nhà sư này một  luồng điện cực mạnh như thể muốn đốt cháy và biến lão thành đống tro bụi...
         Trông lão lúc bấy giờ thật thảm não! Lão đang run sợ. Toàn thân lão run lên như cầy sấy. Mọi người nghe cả tiếng thở dài não nuột của lão. Thật sự lão đang run sợ.  Rồi sau đó như quả bóng xì hơi, lão ngã lăn xuống mặt đất! Mắt lão trợn trừng, miệng lão sùi cả bọt mép. Chẳng ai màng để ý đến lão chỉ vây quanh lại bên tôi và đặt tất cả hy vọng vào sự cứu chữa của Minh Sư tôi...
         Ở ngay trên cao nhìn xuống cái "tứ đại cốt nhục" của chính mình, thú thật đây là một điều mới mẻ đem cho tôi một khoái cảm lạ lùng.
         Giờ phút này tôi đang lơ lửng bay ngay bên trên đỉnh đầu của  mọi người. Tôi nhìn thấy rõ ràng thằng Yulgie đang ôm mặt khóc lên rưng rức. Tôi thấy cả thằng Đề Mộng nó vừa khóc vừa rủa sả "bá ngọ" cái lão sư lùn tịt, vừa kêu gọi thầy tôi  "bỏ ngải" cho lão già lùn tịt đó bỏ đời này luôn.  Thật tội nghiệp cho bọn nó! Tôi cảm thấy thương chúng nó vô hạn. Tôi sà xuống ngay nơi bọn chúng đang vây quanh tôi ôm chầm lấy, thế mà chúng vẫn trơ trơ ra kêu khóc luôn mồm, không thèm ngó ngàng gì đến tôi!
         Tôi sực nghĩ đến anh Hà Mịch, bởi trong các lần gặp gỡ. Anh ta thường khi thảo luận về trạng thái của cái chết.  Anh bảo những kẻ khuất mặt không ở xa với các người nơi cõi phàm này.  Họ luôn luôn ở bên cạnh ta, như tôi trong tình huống này chẳng hạn. Anh Hà Mịch không sai! Chính người sống mới có quan niệm là có sự cách biệt hoàn toàn giữa cái sống và cái chết.
         Có điều, anh Hà Mịch không lý giải được là thực sự người sống  xa dần người chết. Tuy nhiên người chết thì chẳng bao giờ xa rời họ. Trong giờ phút này tôi đã nhìn thấy được điều này.  Không ai nhìn thấy linh hồn ta nhưng ta thì dễ dàng trông thấy họ bất kỳ ở tình huống nào!  Không ai trao đổi với ta lời nào! Họ hoàn toàn im lặng để khóc và để thương. Trong lúc đó ta hoàn toàn chia xẻ niềm đau của họ... Bí mật của tạo hóa đã không cho họ phương tiện để nhận biết được những cái gì thiêng liêng nhất. Còn ta, trong giờ phút chưa thoát hẳn khỏi cõi ta bà này, muốn bảo cho họ biết là chính mình đang đứng bên cạnh họ, đang chia xẻ với họ những gì mà họ đang đau khổ, nhưng không thể nào vượt thoát ra khỏi sự huyền nhiệm của tạo hóa được.
         - Thế nào, thưa Đại Đức? Lỗ San có hy vọng cứu được không?
         Tôi không buồn nghe đến câu trả lời của vị Đại Đức Y sĩ đó, mà vẫn tiếp tục nghĩ đến những  điều anh Hà Mịch trước đã nói gì về cái chết. Anh Hà Mịch đúng. Anh bảo người khuất mặt ở bên cạnh ta. Như tôi bây giờ đang ở bên cạnh mọi người. Theo lời giải thích của anh Hà Mịch "Ho,ï  những người trần mắt thịt  không thể thấy ta đặng  vì linh hồn kẻ chết không phải là một thể đặc từ các tế bào kết tụ lại." Thế có nghĩa là, anh Hà Mịch giải thích linh hồn của ta ở trong cái "vía", mà cái vía được cấu tạo bằng chất thanh khí khác hẳn với xác thân bằng xương bằng thịt. Hồn hay vía đều không kích thích được nhãn quan của ta thì làm sao  người phàm mặt thịt có thể trông thấy được?!
         Vậy thì cái thân xác của mọi người đến một giai đoạn nào đó cũng bị mục nát để rồi trở về với cát bụi, trong lúc cái phần linh thiêng tức cái phần hồn thì vĩnh viễn tồn tại với không gian và thời gian.
         Nghĩ đến đây tôi muốn hiện hình lên trước mắt mọi người để chứng minh là sự sống của tất cả mọi người đều tồn tại mà không bao giờ bị hủy diệt! Nhưng ý định của tôi đã bị một bàn tay vô hình chặn lại. Hình như có một mệnh lệnh từ một cõi xa xăm nào đó đưa ra ngăn cản không cho phép tôi làm một điều sai trái như vậy!
         Một giọng nói thật ngọt ngào văng vẳng bên tai tôi: "Rồi tất cả mọi người tức khắc phải biết điều ấy". Tôi vừa bay, vừa liên miên suy nghĩ.  Tôi bay xuyên qua mái bếp và bỗng dưng tôi kêu lên ngạc nhiên khi đứng trước cảnh tượng lạ lùng hiện lên trước mắt.
         - Hả?  - Tôi giương mắt ra nhìn trân trối. Tôi nhìn thấy các vị Lạt Ma đang ngồi thiền định trước quả địa cầu tròn trĩnh khá lớn. Tôi nhìn rõ ràng từng thềm lục địa và các đại dương mênh mông rộng lớn... Tôi không dừng lại nơi đây vì không muốn quấy rầy quý vị này đang cần sự yên tĩnh để ôn lại các bài học. Tôi cứ xuyên qua trần nhà, hết trần phòng này sang trần phòng khác. Khi đến lăng Tẩm Cung thì...thì tôi không còn bay đi đâu nữa. Chung quanh nơi đây là một bức tường lớn được sơn phết toàn vàng óng ánh. Phòng tại đây rất rộng, trưng bày các kim thân của các Đạt Lai Lạt Ma đã có từ bao nhiêu thế kỷ.
         Tôi lặng lẽ đến chắp tay trước các pho kim thân này để tỏ lòng tôn kính. Được một lát tôi thả hồn thoát khỏi căn phòng này để lần lượt tiến sang các gian phòng khác kế cận. Khi bay lên khỏi nóc của viện Thiền Định, tôi nhìn thấy rõ ràng dinh Phổ Đà La vô cùng tráng lệ. Mái ngói toàn thếp cả vàng ròng, long lanh dưới ánh mặt trời tỏa ra màu vàng rực trông chẳng khác nào ánh trăng lung linh trên dòng sông Kỳ Chu vào những đêm trăng tròn trên nền trời trong sáng ... Các cột sơn son màu đỏ chói xen lẫn màu hồng diệp cùng với các bức tường trắng xóa và những thành đá được dựng lên thẳng tắp sừng sững trước cảnh núi núi non hùng vĩ

(Còn tiếp)

Câu chuyện gồm 9 chương rất dài nên NNNg chỉ mạn phép post chương cuối cùng dù là chuyện rất huyền bí và lối cuốn)...





Về Đầu Trang
nhungocnguyen



Ngày tham gia: 22 Nov 2011
Số bài: 890

Bài gửiGửi: Sun Apr 13, 2014 11:58 pm    Tiêu đề:

Những Chuyện Huyền Diệu Trên Hy Mã Lạp Sơn (tiếp theo)

 Không biết nghĩ sao, tôi bỗng phóng mạnh lên giữa không trung để nhìn xem những gì bên trên của cái vô cùng của trời đất.  Chỉ thoáng trong chốc lát tôi chứng kiến cảnh đẹp của bên trên không gian vô cùng của vũ trụ.  Tôi sực nhớ lại lời Đức Lạt Ma Minh Dà Đông Đạt đã có lần giảng giải cho tôi nghe về biển sao bên trên không gian còn nhiều hơn cả cát của các sa mạc trên mặt địa cầu này gộp lại.
         -"Lỗ San!  thầy tôi bắt đầu giảng giải. Con người cho dù giỏi đến đâu đi nữa vẫn cảm thấy mình bất lực trước cái vô cùng của vũ trụ. Ngoài dải Ngân Hà chúng ta đang ở còn có hằng hà sa số các dải Ngân Hà khác. Đừng tự hào là trong vũ trụ này duy chỉ có chúng ta là vật linh thiêng nhất trong muôn loài, mà còn có cả hàng bao nhiêu đời sống khác, còn thông minh hơn loài người trên trái đất này hàng triệu triệu lần như vậy. Ngày xa xưa, các bậc tổ tiên của chúng ta từng khám phá bằng trí tuệ và ngay cả bằng tuệ nhãn rằng là: họ đã từng biết qua tri thức và kiến thức của mình, là ngoài đời sống của chúng ta còn có các đời sống khác. Họ ở rất xa với chúng ta, khó lòng giao dịch được với những con người hành tinh đó, nếu chúng ta cứ theo con đường mòn bằng vào các cơ khí để lần ra lối đi đến với họ. Trước kia, tổ tiên chúng ta, đã biết được các nàng tiên bay lượn trên bầu trời hay các vị thần trên thượng tầng không khí biến hóa khôn lường v.v... Các nàng tiên nữ tổ tiên ta bằng vào khả năng tri thức và kiến thức  đưa ra, được các họa sĩ ngày xa xưa ban cho thêm đôi cánh ...Với người đời nay, cho đó là sự tưởng tượng thái quá, nếu không nói là chuyện thơ mộng của con người dưới cõi trần gian này. Tuy nhiên quan niệm này của người xưa nó là một sự thực bởi họ nhìn thấy được các bà tiên xinh đẹp đó, các vị linh thần đó bằng tri thức và kiến thức mà không thể nào giải thích...
          Ngay cả thế kỷ 21 này, nền văn minh của con người đang đạt gần đến cực đỉnh, song vẫn cảm thấy mình chẳng làm sao thấu rõ sự bí mật của tạo hóa. Càng khám phá càng thấy mình chẳng biết gì cả. Nhưng oái oăm thay, càng chẳng biết lại càng chối bỏ sự thiếu hiểu biết của mình. Các nhà khoa học ấp a ấp úng bằng những lời lẽ vừa bác bỏ thuyết có đời sống bên ngoài hành tinh của chúng ta vừa bảo là mình đang lần mò tìm kiếm, liệu chuyện ấy có thật hay không?

********************

         Gần đây, theo Đài VOA  một khám phá đã được thực hiện trong vụ quan sát một vùng tập trung các vì sao đang thành hình ở cách địa cầu chúng ta lối 14.000 năm ánh sáng.  Viễn vọng kính Spitzer  quan sát sự ra đời của  trên 300 vì tinh tú, trong số này có hai vì tinh tú có những vòng đai bụi tạo ra hành tinh bao quanh, đây cũng là các loại bụi đang kết lại trở thành các vì sao mới. Theo nhà thiên văn Ed Churchwell của trường Đại học Wisconsin của Hoa Kỳ cho là Những phát hiện này vượt quá sự tưởng tượng của chúng tôi về số lượng các sao đang thành hình trong một khu vực riêng lẻ. Điều này thật vô cùng quan trọng. Vì rằng, việc tạo hóa thành lập các vì sao cũng giống như mạch máu của một thiên hà. Nếu không có như vậy thì các thiên hà được dựng lên  sẽ bị tàn lụi dần và cuối cùng chúng ta không còn trông thấy chúng nữa". Công trình hình thành các thiên thể cũng phải mất đến hàng triệu năm, chứ không là một sớm một chiều. Nhờ các khám phá mới mẻ này mới biết "Sự Sống Khởi Đầu Trên Trái Đất Này như thế nào. Ông Dan Watson - nhà thiên văn học Đại Học Rochester - New York, nói rằng điều này có thể giúp giải thích nguồn gốc các thiên thể băng giá như các sao chổi và thiên thạch chẳng hạn. Ông nói:
         "Quý vị nên nhớ chúng ta thường tin rằng các thiên thạch và sao chổi trong thái dương hệ của chúng ta đã mang nước và các chất liệu kiến tạo sự sống khác xuống Trái Đất như chúng ta có hiện nay, và lấp đầy đại dương."
         Nhà thiên văn Alan Boss thuộc viện Carnegie, ba phát hiện mới mẻ của Viễn vọng kính không gian Spitzer có ý nghĩa sâu sắc đối với lý thuyết cho rằng  có thể có nhiều hành tinh khác giống thái dương hệ của chúng ta. Thế có nghĩa là các thái dương hệ đó có đời sống...
         Các đời sống đó có thể còn văn minh hơn nhiều so với nền văn minh của hành tinh chúng ta đang sinh sống.

********************

         Tôi đang bay lơ lửng háo hức với hiện tượng lạ lùng trên thượng tầng không khí, thì bỗng nghe văng vẳng bên tai có tiếng ai đó vọng lại. Tôi hạ thấp dần xuống và khẽ đưa mắt nhìn về phía tay phải, nhìn thấy làng So nằm sau  lưng thành Lạt Sa tuyệt vời...Và xa xa hơn nữa  là dãy núi xanh mờ ảo...Tôi lướt nhẹ hết nơi này đến nơi khác mới nhận thấy xứ sở Tây Tạng  thật sự đẹp đẽ vô ngần và mênh mông vô tận...
          Tại làng So có lần tôi ngẫu nhiên nhìn thấy pho kinh tối cổ, pho kinh mà có lần thầy tôi giảng giải nó ẩn chứa một năng lực mầu nhiệm phi thường.  Dường như pho kinh này chỉ được truyền thụ cho các tín đồ Mật Tông, các hành giả sau khi thụ huấn qua tám phép Bát Định hay Bát Thiền Định mới được xem là thoát khỏi vòng "dục giới"...
         Trong lúc suy tư mà hồn tôi cứ phiêu diêu đây đó đến nỗi tôi không còn nhớ mình là ai nữa và đang làm gì nữa... Bất thần ngay lúc ấy tôi bị một sức hút vô hình giữ tôi lại... Tôi cố vùng vẫy nhưng vẫn không thể nào thoát ra khỏi trường hợp lạ lùng này.
         Thế rồi, hồn tôi không còn cưỡng lại được nữa, cứ từ từ tụt xuống mãi, xuyên qua Phổ Đà La, qua luôn tất cả các phòng, luôn cả cái sàn ván trên gác, rồi đến nhà bếp... nơi có xác thân tôi đang nằm mê man bất tỉnh!
         Tôi bỗng nhận thấy hình ảnh thầy tôi - Đức Lạt Ma Minh Dà Đông Đạt đang nhẹ nhàng dùng khăn ướt lau nơi màng tai trái của tôi, và lấy ra mấy mảnh xương nhỏ trắng hêu hếu từ bên trong vết thương ra... Nhìn thấy vậy tôi lẩm bẩm tự nhủ:
         - Làm sao thế này? Chẳng lẽ đầu tôi cứng đến nỗi đập vỡ cả mảng đá trắng của chiếc cối đá đó hay sao?
         Tôi lặng người đứng trân ra nhìn xác của chính mình nhuộm đỏ cả máu từ vết thương trên đầu tuôn ra xối xả! Linh thể tôi chăm chú theo dõi cảnh mọi người  vây quanh thi thể tôi đang nằm yên bất động. Ngài Minh Dà Đông Đạt đặt vào vết thương trên đầu tôi một miếng thuốc cao chính người đã làm bằng loại dược thảo Chingwa, đúng theo công thức chỉ dẫn trong một bộ kinh Tây Tạng.  Minh sư đã có lần  giảng giải về tính dược của loại cỏ Chingwa này, mà theo lời người nó có thể cải tử hoàn sinh được.
         Ngài loay hoay băng bó cho tôi, xong xuôi ra lệnh cho hai vị sư đứng cạnh, dùng cái cáng nhẹ nhàng khiêng tôi theo ngài về phòng riêng để tiện việc chữa trị.
         Nhưng bất thần quang cảnh quanh tôi bỗng dưng tối sầm lại. Tất cả mọi vật như bị chìm trong bóng đêm dày đặc. Tôi bâng khuâng tự hỏi đang vào đúng giữa trưa mà ánh sáng làm sao tắt biến ngay được, khi mà cả bầu trời còn đang trong sáng!
         Tôi vô cùng ngạc nhiên khi nhìn thấy ánh hào quang từ trong cơ thể của chính mình phát ra một màu xanh êm dịu!  Đang lơ mơ chiêm ngưỡng ánh hào quang của mình, tự nhiên tôi như bị một sức hút kéo mạnh xuống đến nỗi không thể nào cưỡng lại được.  
         Lúc bấy giờ văng vẳng bên tai tôi có nhiều tiếng reo lên, mặc dù tôi đang mệt mỏi xen lẫn sự nhức nhối đau đớn thi nhau hoành hành đến cực độ:
         - Cậu...ấy...sống lại rồi!
         - Im đi... Đừng làm ồn ào...hãy để chờ xem...
         Không như lúc linh thể còn nhẹ nhàng bay lơ lửng trên trần nhà, mà giờ đây toàn thân tôi bị ê ẩm đến độ không thể nào cử động được nữa. Sự cần thiết của tôi lúc bấy giờ là cố tìm lấy giấc ngủ, nhưng làm sao được khi mà châu thân tôi càng lúc càng đau đớn thêm hơn lên! Nhưng rồi cuối cùng, tôi từ từ rơi vào trạng thái hôn mê và thật sự không còn hay biết gì nữa!
         Chẳng biết phải mất trong bao lâu nằm mê man bất tỉnh như vậy, chỉ biết khi giật mình tỉnh dậy thì mặt trời đã lên quá chặng con sào. Lúc ấy, tôi cảm thấy đầu cổ mình đau như búa bổ. Toàn thể châu thân tôi nóng rát ê ẩm. Tôi chưa phân biệt được các hình ảnh cũng như màu sắc vây quanh mình, nơi nào tôi cũng nhìn thấy đủ các màu sắc lẫn lộn!  Sự đau đớn lại bắt đầu kéo đến dằn vặt càng lúc càng thêm lên đến nỗi làm tôi muốn phát điên lên.
         Trong lúc cơn đau đớn kéo đến hành hạ, tôi bỗng nghe có tiếng  rầm trầm nhỏ nhẹ bảo khẽ bên bờ tai tôi:
         - Đã qua cơn nguy hiểm rồi Lỗ San à! Chú cứ nằm yên thêm chốc lát nữa thì sẽ không còn đau đớn nữa.
         Và, thật như vậy. Được một chốc tôi cảm thấy toàn thể châu thân mình không còn đau đớn nữa. Đầu của tôi như thể gối trên một chiếc gối được nhồi lông con thiên nga. Chiếc gối như quấn chặt lấy đầu cổ tôi, cho tôi hơi ấm và một cảm giác cực kỳ êm ái... Đôi mắt tôi hấp háy mở ra, nhưng vội nhắm nghiền lại bởi ánh sáng bến ngoài chiếu vào. Nhưng dù chỉ nhìn thoáng qua cũng đã nhận thấy ngay thầy tôi đang ngồi bên cạnh! Tay người nắm lấy tay tôi. Hơi ấm của người chuyền vào từng mạch máu và dẫn thẳng vào tận tim tôi. Những lúc như thế này tôi bỗng nhớ đến mẹ tôi kinh khủng! Giá gì trong những lúc này có mẹ tôi ngồi một bên, hỏi han chăm sóc cho tôi thì còn gì sung sướng hơn nữa!
         Lần này tôi cố hết sức mình hé mở mắt ra và khẽ mỉm cười với người và Minh sư cũng vậy. Thầy tôi trao cho tôi ly nước có mùi thơm thơm rồi bảo:
         - Uống đi! Đây là loại nước cam lồ, chú sẽ cảm thấy tỉnh táo hẳn ra ngay.
         Rõ ràng , uống xong ly nước cam lồ, tự nhiên sức sống mới tràn đầy trong cơ thể tôi. Việc đầu tiên là tôi thử nhấc cái đầu còn băng cả vải trắng lên, nhưng đã vội để rơi xuống gối ngay vì cảm thấy như tuồng bị cái chày đá nện xuống ngay nơi vết thương thêm lần nữa.  Mắt tôi lại hoa lên trông như thể cả đàn đôm đốm bay tỏa ra trước mặt mình.
         - Không nên vội Lỗ San à! Đâu có phải là thuốc tiên khiến chú được lành lặn ngay được! Chú cần phải nghỉ ngơi thêm năm ba ngày nữa...
         Nói đến đây, thầy tôi đứng lên khi nghe có tiếng cồng từ ngôi thiền viện vọng lại,  nhìn tôi bảo:
         - Giờ ta phải về thiền viện. Ngài Tối Cao truyền gọi ta gặp Ngài. Đừng lo sợ gì, ta cho thằng Đề Mộng cùng Yulgie canh chừng chú khi ta vắng mặt.
         Nói đến đây, người siết nhẹ tay tôi rồi ra khỏi phòng. Đợi bóng Người vừa khuất sau cánh cửa, hai thằng bạn thiết cốt của tôi đã sà ngay đến cạnh giường rối rít bảo:
         - Lỗ San! Tao mừng cho mày!  Thằng Đề Mộng nói. Mày sống lại, tao mừng đến phát điên lên được. Nghe đâu thằng cha nhà sư đầu bếp quỉ sứ đó bị đuổi ra khỏi thiền viện đây rồi.
         Yulgie cũng chen vào:
         - Quả vậy! Nó đã bị tống cổ ra khỏi chùa ngay sau đó.  Ôi cái thằng nhà sư lùn tịt ấy to đầu mà ngu xuẩn đến độ như vậy. Lúc ấy giá gì tao có phép "thư " ngay cho nó một ngải, hóa thân cho hắn thành con ngáo ộp đời đời kiếp kiếp sống mãi dưới tầng địa ngục.
         Đề Mộng nắm lấy tay tôi:
         - Tao tưởng mày chết rồi chứ!  Máu mày chảy ra lênh láng như con bò bị chọc tiết...
         Rồi hắn hạ thấp giọng khẽ hỏi:
         - Này! Mày thử cho bọn tao biết lúc mày chết đó mày có gặp quỉ sứ không? Nó có nanh nhiều không? Tay nó có vuốt nhọn không?  Ôi! Nếu sau này mà tao chết  ắt là tao sợ lắm...
         Tôi bật phì cười. Giọng nói của chúng chứa đựng cả sự thành thật... tôi nhìn chúng với cả lòng thương cảm.
         - Ngày còn sống tao có nghe đến khi chết ắt có tử thần cầm lưỡi hái đến kéo cổ mình đi...
         - Ờ, tao cũng nghe như mày nói vậy!  Thằng Yulgie cướp lời tôi nói.
         Tao cũng nghe như Yulgie bảo vậy! Còn mày thì được nhìn tận mặt, trông nó như thế nào? Chắc là hệt như quỉ sứ, phải không?  
         - Nhưng mà, tao chưa chết thì làm sao trông thấy mặt con quỉ ấy được?
         - Mày không chết là sau khi được thầy mày chữa trị, còn lúc mày nằm thẳng cẳng nín thở ấy là lúc mày đã xuống dưới cõi Âm Ty rồi.. Thế nào mày cũng được nhìn thấy...
         - Tao không nhìn thấy thần chết nào cả. Có lẽ là tao...chưa đến số chết. Tuy nhiên trong khi cái thân xác tao nằm bất động thì linh thể tao được chu du đến bất cứ nơi nào tao muốn. Có lúc không hiểu sao tao muốn đến các vì tinh tú tận giữa bầu trời xa xăm kia...
         - Và mày đã đến được?
         - Tất nhiên. Ngay cả tao bay thẳng vào khoảng không gian tối tăm và lạnh lẽo nhất, nơi ấy tao nhìn thấy một vì sao nhỏ xinh xắn... Tao là là bay vào bên trong...đứng trong ngôi sao bé nhỏ này nhìn ra bên ngoài chỉ thấy toàn một màn đen nghịt bao bọc chug quanh... thỉnh thoảng mới nhìn thấy một vài tia cực tím loằng ngoằng hiện ra rồi tắt lịm ngay sau đó.

         (Có thể hành tinh bé nhỏ này vừa được phát hiện theo như thông báo chính thức của Cơ Quan Không Gian Quốc Gia (NASA) của Hoa Kỳ vào hôm thứ Hai ngày 15-3 năm 2003.  Theo thông báo cho biết thiên thể vừa mới tìm thấy rất tối tăm và băng giá nhất  trong Thái Dương Hệ. Nó nhỏ hơn Thiên Vương Tinh, chỉ vỏn vẹn 2.500 km... Tiểu hành tinh vừa mới được khám phá này được đặt tên là Sedna, theo tên nữ thần Inuit, Người đã tạo ra các sinh vật trên  Bắc Băng Dương ở cách Mặt Trời hơn 13 tỷ km và nhiệt độ của nó chưa bao giờ vượt quá 240 độ C.)

         - Rồi mày có đi dạo quanh ngôi sao tí hon ấy để tìm các con người trên ấy chuyện trò không?  Yulgie chòm lên hỏi tôi một cách gấp rút.
         Tôi phì cười:
         - Tao chẳng thấy có người nào cả...
         - Nhưng mà mày ắt biết là nơi ngôi sao ấy có sinh vật hay không chứ...
         - Tao thú thật là chẳng tìm thấy mống nào cả. Nhưng theo lời giảng giải của Đức Lạt Ma Minh Dà Đông Đạt, thì sự sống không phải chỉ những sinh vật ở địa cầu này giữ độc quyền. Có nghĩa là rất có thể là có đời sống ở những hành tinh xa xôi đó, song vì kỹ thuật khoa học của con người còn ấu trĩ so với cái vô cùng của Vũ Trụ nên chưa thể tìm thấy được mà thôi.

         (Gần đây, theo nguồn tin từ Wellington ở Tân Tây Lan được đăng tải trên tờ New Scientist , thì cứ 10 vì sao trong dải Ngân Hà của chúng ta thì một có thể cung cấp những điều kiện sống cần thiết cho sinh vật bậc cao tồn tại.  Các nhà nghiên cứu Úc Đại Lợi cũng kết luận như vậy. Và hầu hết các vì sao này trung bình già hơn mặt trời một tỷ năm, trên lý thuyết đã quá đủ để bất cứ dạng sống nào tiến hóa.
         Khái niệm vùng di trú thiên hà (GHZ) trong Milky Way lần đầu tiên được đưa ra vào năm 2001. Nay Charles Lineweaver  thuộc Đại Học New Wales  và cộng sự đã tìm ra một vùng GHZ thân thiện với sự sống, khi dùng mô hình tiến hóa của Milky Way để lập bản đồ sự phân bố trong không gian và thời gian của bốn nhân tố chính được xem là cần thiết cho dạng sống bậc cao.
         Nhân tố đầu tiên là sự xuất hiện của các ngôi sao chủ trong một thái dương hệ. Tiếp đó là sự xuất hiện của các nguyên tố nặng đủ để hình thành nên các hành tinh đất đá. Nhân tố thứ ba là vùng này phải có một khoảng cách an toàn đối với những vụ nổ siêu tân tinh. Và cuối cùng là phải có đủ thời gian để sự sống tiến hóa. Nhóm nghiên cứu đã xác định con số tối thiểu cho nhân tố thứ tư là 4 tỷ năm (đây là thời gian để các dạng sống phức tạp xuất hiện trên Trái Đất.)
         Các phân tích cho ra kết quả là vùng GHZ có dạng đĩa, hình thành khoảng tám tỷ năm trước, nằm cách tâm Milky Way  khoảng 25.000 năm ánh sáng. Nó mở rộng chậm chạp, chứa các ngôi sao có tuổi đến khoảng 4 tỷ năm trước, tức gần 10% tất cả các ngôi sao từng được sinh ra trong thiên hà này.
         Nhưng theo một số nhà nghiên cứu khác, hiện chúng ta còn biết quá ít về những điều kiện cần cho sự sống (như nguồn gốc sự sống) và do đó rất khó để nói về vùng mà các dạng sống có thể cư trú.
         Lineweaver nhấn mạnh nhóm của ông ngụ ý rằng các dạng sống phức tạp ngoài trái đất là có thể, hoặc tồn tại trong vùng GHZ, mà chỉ cho biết vùng này có tiềm năng nhất để hình thành các sinh vật sống bậc cao).  

         Nói đến đây, tôi chăm chú nhìn mặt chúng mỉm miệng cười lộ vẻ sung sướng đang dâng lên rào rạt trong tâm tư. Một lúc sau tôi lại cảm thấy quá mệt mỏi...và...lại một lần nữa tôi bị rơi vào giấc ngủ từ bao giờ cũng chẳng hay biết.
         Liên miên nằm trên giường bệnh trong suốt cả tuần lễ như vậy và được Ngài Lạt Ma Minh Dà Đông Đạt tận tay săn sóc. Thật là may mắn cho tôi, nếu không có Minh Sư chữa trị thì chắc chắn tôi không thể nào thoát khỏi tay thần chết. Tôi vô cùng cảm kích  lòng nhân từ của Minh Sư, người yêu thương tôi như con cái mình. Bất giác tôi liên tưởng đến công việc trọng đại mà mình sắp phải đảm nhiệm! Không phải chỉ thuần túy Người cố giữ lấy mạng sống cho tôi, mà còn một lý do khác  nữa. Đó là lý do Người phải dốc toàn sức lực của mình để cho "tôi phải sống" hầu chu toàn lấy sứ mạng đặc biệt do đất nước giao phó...mà Đức Đại Lạt Ma Tối Cao đã truyền mệnh lệnh cho Người...
         Có hôm, tôi vừa ăn xong cháo buổi sáng, thằng Yulgie  tò mò hỏi :
         - Này, Lỗ San à!  Có lần tao nghe lỏm được  mầy là hiện thân của một Đức Đại Lạt Ma nào đó tái sinh... Có phải hay không?
         - Ờ, tao cũng nghe như thằng Yulgie vừa bảo như vậy! Thế mày có thể tiết lộ cho bọn tao nghe thử được không?
         Tôi đưa mắt nhìn chúng trong giây lát đoạn cất tiếng hỏi lại:
         - Vậy chúng mày có tin điều đó hay không?
         Chúng chỉ giương mắt trân trối nhìn tôi, mà chẳng có đứa nào đáp lại.
         Tôi gật đầu:
         - Có. Tao có một kiếp trước, từng là một nhân vật cao cấp trong hàng lãnh đạo của Tây Tạng... Thầy tao bảo như vậy. Các nhà Chiêm Tinh cũng bảo vậy. Kiếp trước của tao là ai, Minh sư của tao chưa tiết lộ...
         - Nhưng mày có tin hay không?
         - Tất nhiên là tao tin, bởi có những sự kiện của tiền kiếp, tao đều nhớ gần như nằm lòng. Tao đã đáp lại đúng những yêu cầu của chẳng những thầy tao mà còn luôn cả các vị Đại sư có bổn phận theo dõi và tìm hiểu kiếp trước của tao nữa.

         (Gần đây có vị Đại Lão Lạt Ma Tái Sanh Lobsang Tenzing Rinpoche thuộc tu viện nổi tiếng  Ganden Shartse tại Ấn Độ. Ngay từ thời còn ấu thơ, ngài đã được Đức Đạt Lai Lạt Ma đời thứ 13 công nhận là nhân vật tái sinh từ một vị thầy tôn kính quý báu nhất của dòng truyền thừa này - đó chính là ngài Lobsang Tenzing Rinpoche - cựu Viện Trưởng Tu Viện Ganden Shartse tại Tây Tạng. Ngài có những ấn chứng thần bí và khả năng siêu phàm như tiên đoán chính xác được các sự kiện sẽ xảy ra, chữa được các bệnh tật ngặt nghèo và thông suốt tự nhiên  về các giáo lý nhà Phật. Ngài đã được các vị thầy giỏi nhất thời bấy giờ giáo huấn như Đức Đạt Lai Lạt Ma đời 13, Pabongka Rinpoche, Ling Rinpoche, Trijan Rinpoche v.v... Ngài cũng thông suốt sâu xa các rừng kinh điển đại thừa đến các nghi thức cùng những mật pháp bí truyền và vì thế đã được cấp cả hai bằng Tiến Sĩ Phật Học (Lharampa) tại Lhasha và Tiến Sĩ Thần Học (Ngarampa) tại Đại Học Mật Tông Giuto thuộc Phật giáo Tây Tạng vào năm 1948 với điểm tối ưu hạng.  Năm 1963 ngài rời quê hương đến định cư tại Ấn Độ. Ngài là một tu sĩ thường xuyên nhập thất tịnh tu liên tục trong nhiều năm và hết lòng đào luyện tăng tài không ngưng nghỉ sau khi nhận nhiều chức vụ trọng đại do Đức  Đạt Lai Lạt Ma đời 14 bổ nhiệm).

(Còn tiếp)
Về Đầu Trang
nhungocnguyen



Ngày tham gia: 22 Nov 2011
Số bài: 890

Bài gửiGửi: Mon Apr 14, 2014 1:14 am    Tiêu đề:

Những Chuyện Huyền Diệu Trên Hy Mã Lạp Sơn (tiếp theo)

 ĐẦU TƯ KIẾN THỨC

         Thời gian không bao lâu cuối cùng tôi hoàn toàn bình phục, bắt đầu trở lại với công việc tu hành. Thầy tôi đưa ra nhiều vấn đề thảo luận. Các vấn đề Người đưa ra không như nhau, có số thông thường  và có số không phải thuộc loại thông thường.  
         Có lần nói về sự lựa chọn nghề nghiệp trong tương lai của mình:
         - Thưa Minh Sư, trong các nghề nghiệp con thích nhất không gì bằng nghề Quản Thủ Thư Viện.
         - Tại sao chú lại thích công việc này?  Thầy tôi hỏi lại.
         - Vì đó là một kho tàng vô giá về tri thức và kiến thức của con người... Con sẽ được miên viễn học hỏi không bao giờ hết được.
         Minh Sư mỉm cười nhìn tôi nói:
         - Châm ngôn của Trung Hoa có câu: "Riêng mỗi một bức họa cũng giá trị bằng hàng ngàn câu nói" huống hồ là cả một kho tàng sách vở. Tuy nhiên với ta thì dù có đọc bao nhiêu sách hay chiêm ngưỡng bao nhiêu tranh đi nữa mà không biết phân biệt được cái đúng và cái sai để đầu tư cho sở học của mình thì cầm bằng như không vậy. Đầu tư kiến thức cho mình là một điều cần thiết, nhưng sự thận trọng để khỏi phải bị sách vở đầu độc lại là một điều quan trọng hơn.  Nếu không có ngày chú sẽ hóa thành một kẻ điên vì... chữ nghĩa mất.  
         Lời nói này của Minh sư, làm tôi sực nhớ đến nhà sư Nhật Bản Kenji Tellenchi gần 70 tuổi, đã đọc qua biết bao nhiêu sách mà cuối cùng chẳng thực hành được gì mà còn trở thành một kẻ mất trí! Tôi có cảm tưởng nhà đại sư già này đã bị bội thực các tư tưởng trong các kho tàng sách vở mà ông đã ngấu nghiến trong suốt cả cuộc đời.
         Đọc được ý nghĩ của tôi Minh Sư Minh Dà Đông Đạt gật đầu nói:
         - Đúng là như vậy. Ông ta đâu có bị bệnh thần kinh?! Chỉ vì ông ta luôn luôn dồn nén các mớ tư tưởng trong sách vở khiến trí óc ông bị bội thực như chú nghĩ.  Điều này đã khiến cho thần kinh ông bị tổn thương,  lúc nào cũng xem mình là một vĩ nhân và tự phong là nhà siêu trí thức.  Có thể chú đã nhận thấy điều này qua những cuộc tiếp xúc với nhà sư già nua ấy! Ông đã tự thần thánh hóa và phô trương từng câu nói, từng lối viết lách, lúc nào cũng muốn mọi người phải tuân phục mình, coi như thế gian này chỉ có mỗi mình mình...Thật tội nghiệp, ông ấy cứ mãi đinh ninh mình là cái rốn của vũ trụ. Nhưng thật ra nhà sư Kenji Tellenchi  già nua này chẳng đánh lừa được ai, ngoài ông ta.
         Nói đến đây, người đưa mắt nhìn các chiếc lá vàng rơi  rụng đang lay bay theo gió ngoài song cửa sổ.  Giây lát sau người đưa mắt nhìn tôi nói tiếp:
         - Nhà sư già này bị vỡ nợ tinh thần. Tất cả những gì ông ta đã cố vơ vét dồn nén hết trong các kinh điển sách vở nơi các thư viện đã làm cho ông bị bệnh hoạn. Ta có thể nói là nhà sư Kenji Tellenchi  nghiến ngấu các kinh điển đến nỗi khiến đầu óc ông ta không còn chỗ để chứa nữa. Hiện nay đầu óc ông chẳng khác nào như kho thuốc súng không còn nện vào đâu được nữa và sẵn sàng nổ tung ra thành từng mảnh vụn.
         - Thưa Minh Sư, đọc nhiều hữu ích nhiều, sao lại như vậy?
         - Đúng. Nếu ông ta biết chọn sách mà đọc. Trái lại, tất cả các sách vở, cuốn nào vớ được ông đều nghiến ngấu đọc, không cần chọn lọc nữa. Ông ấy không cần biết, miễn sao có sách đọc là được, không cần biết thực, hư, hay, dở thế nào! Ông đã đánh mất không biết bao nhiêu thời gian  để đi nghiên cứu một mớ chữ nghĩa điên loạn đến độ khiến chính ông ta  bị chữ nghĩa làm điên loạn đầu óc mình!  Tai hại thay! Sở dĩ vì vậy đã tạo cho ông ta có những cao vọng hão huyền... Ông ta đọc được nhiều giáo lý của nhiều tôn giáo rồi vỗ ngực tự cho mình là một siêu nhân có một trí tuệ vô cùng vô tận...
         - Thưa Minh Sư, vậy thì làm thế nào để phân loại được sách, sách nào nên và sách nào không nên đọc đến?!
         - Lỗ San! Không nên để cho sách vở làm cho trí óc ta bị mù quáng đánh mất đi sự phán đoán của mình.  Đọc sách bao giờ cũng giúp cho trí óc ta mở mang, nhưng tuyệt đối tránh đừng để làm nô lệ nó.  Sách vở kinh điển, dĩ nhiên là không thể thiếu được. Nó là một nhu cầu cần thiết như các thức ăn bồi dưỡng cho tinh thần. Các thư viện trên khắp thế giới đều chứa đựng những kiến thức tối ưu của nhân loại trong các pho kinh điển vĩ đại cùng sách vở từ ngàn xưa lưu lại.
         Nói đến đây Minh Sư ngưng lại trong chốc lát, đoạn tiếp tục giảng giải:
         - Tất nhiên là chúng ta không làm sao học được khắp tất cả các danh sư trên thế gian này. Nhưng chúng ta nhờ phương tiện sách vở in ấn khắp mọi nơi giúp cho chúng ta có thể tìm đọc để mở rộng thêm tầm kiến thức. Ta có quyền nhặt nhạnh những ý tưởng đẹp để đầu tư thêm cho kiến thức mình và có quyền vứt bỏ lại những gì ta cảm thấy không thích hợp với cuộc sống thánh thiện.  Chú đừng ngại việc loại bỏ có thể làm xúc phạm đến tác giả của nó. Chẳng có danh sư, tác giả nào bắt buộc chú phải tin những gì họ viết! Không! Chú có toàn quyền theo ý tưởng của mình. Ta muốn khuyến cáo chú là nên dùng trí phán đoán về bất cứ luồng tư tưởng nào mà chú đang nghiền ngẫm.
         Minh Sư nhìn tôi và từ từ nâng chung trà thơm lên nhấm nháp.
         - Có một điều ta khuyên Lỗ San là  đừng nên vượt quá cái nghiệp quả thấp kém của mình để cố chạy đến cái đích cao cả ngoài tầm tay với. Làm như vậy chẳng khác nào rước lấy họa vào thân như ông bạn đại sư già Nhật Bản kia.  Chú hiểu chứ! Lỗ  San.
         Đến giờ ăn, thầy tôi rung cái chuông bạc, liền sau đó chú tiểu mang thức ăn trưa bằng bánh Tsampa cùng bình trà thơm đến đặt ngay giữa bàn thầy trò chúng tôi đang ngồi đối diện nhau. Chúng tôi vừa ăn uống vừa thảo luận các vấn đề linh tinh, xem nhau như tân khách.
         - Lỗ San!  Chú còn nhớ có lần chú nhìn thấy một hành tinh nào đó thật xa xôi nơi màn ảnh trong Cổ Hiền Thạch Động đó không?
         Tôi nhíu mày suy nghĩ và bỗng nhớ ra hình ảnh của những dải hành tinh xa xôi ở tận ngoài không gian mờ mịt.
         - Vâng, thưa Minh Sư. Có! Con nhớ là có... Con thấy rõ có đến gần cả trăm ngôi sao bé li ti quay quanh một ngôi sao sáng rực... Càng nhìn càng thấy trông giống như các trái đất quay chung quanh vầng Thái Dương vậy.
         - Và chú hỏi ta điều gì đó, chú có nhớ chăng?
         Tôi mỉm cười:
         - Hôm ấy con hỏi Minh Sư do sự tò mò của mình... là liệu trên các hành tinh nhỏ bé xa xôi ấy  có sự sống như chúng ta chăng?
         - Ừ, chú có hỏi ta điều ấy. Và chính ta đã khẳng định với chú là phải có sự sống, chứ chẳng lẽ chỉ mỗi mình trái đất ta có đặc quyền ấy không sao?  Theo ta, vẫn còn giữ nguyên quan điểm là rất có thể trên các hành tinh này có sự sống hiện hữu như chúng ta.  Có điều, các dạng sống xa lạ này khác nhiều so với dạng sống của chúng ta trên mặt địa cầu này.
         - Hình dạng của chúng có khác với chúng ta không?  Tôi hỏi.
         - Ta không thể khẳng định điều này, tuy nhiên chắc chắn chúng là những sinh vật thông minh, có tay chân, đi  đứng giống như loài người trên trái đất chúng ta và bằng cách nào đó trong cơ thể, họ nhận được thông tin về môi trường chung quanh họ. Biết đâu, họ cũng hít  thở, cảm xúc chẳng khác nào như chúng ta vậy.

         (Gần đây, các nhà khoa học nghiên cứu điều này - nếu có sinh vật ngoài hành tinh - đặt ra nghi vấn  biết đâu chúng cũng thở bằng Oxy hoặc một vài loại không khí khác?!  Các nhà nghiên cứu  sẽ áp dụng những điều mà họ đã khám phá về cuộc sống trên trái đất để làm cơ sở nghiên cứu về cuộc sống bên ngoài hành tinh của chúng ta.)

         - Lỗ San, chú hiểu ý ta nói chứ ?
         - Vâng. Con hiểu. Tuy nhiên, những điều mà thầy giảng giải dựa vào cơ sở nào? Con thật tình muốn biết điều này !
         - Muốn tìm hiểu cuộc sống của các sinh vật xa lạ, người ta phải vận dụng kiến thức của bộ môn Sinh Vật Học Vũ Trụ. Chắc chú thừa hiểu đó là một ngành khoa học  chuyên môn nghiên cứu về các dạng sống trong không gian.

         (Lời giải này phù hợp với giới khoa học gần đây đã đưa ra là các các nhà Sinh Vật học tìm hiểu những nguyên tắc cơ bản về sự sống trên trái đất. Cuộc sống xuất hiện và tiến hóa trên trái đất như thế nào? Điều gì ảnh hưởng, chi phối, xếp đặt trật tự cuộc sống này?  Và, quan trọng nhất, điều gì đã khiến trái đất trở thành nơi mà sự sống có thể duy trì được? Từ đó, họ suy ra một số nguyên tắc cơ bản mà các sinh vật xa lạ, nếu tồn tại, phải bắt buộc tuân thủ.)

         - Thuyết này áp dụng cho tất cả?
         - Cho tất cả. Các sinh vật của bất kỳ thế giới nào nếu có cũng sẽ phải tuân thủ như thế cả. Có nghĩa là tuân thủ theo  những nguyên tắc vật lý hóa học...
         Đức Lạt Ma Minh Dà Đông Đạt đã đưa ra đúng theo như lời giải thích của các khoa học gia ngày nay rằng là: Phải có chất hòa tan để duy trì sự sống. Trên trái đất, chất để hòa tan thường là dạng "nước". Một số hóa chất khác cũng có thể cần cho sự sống như  Ammoniac, Methane, Hydro Sulfide... Phải có nhiệt độ và áp suất thích hợp để các chất hòa tan tồn tại ở thể lỏng...
         - Ngoài ra, nó còn có nhu cầu gì nữa không, thưa Minh Sư?
         - Có chứ. Ngoài ra sự sống của những sinh vật lạ trong Vũ trụ cũng cần có sự tiến hóa và phải thích nghi với các điều kiện môi trường, chẳng hạn như nhiệt độ, cũng như độ ẩm và trọng lực của nó...

         (Khoa học ngày nay cũng từng lý giải về điều kiện vận chuyển của sinh vật Vũ trụ này, như một vài phương cách để vận chuyển các chất rắn, chất lỏng và các loại khí trong cơ thể bài tiết các chất thải, vận chuyển các chất dinh dưỡng, đồng thời cũng phải có khả năng tiếp thu môi trường chung quanh nữa.)

         - Chúng có cần trông thấy, nghe ngóng không?
         - Sao lại không? Chúng cũng phải có giác quan chứ! Dù ở dạng khác lạ với chúng ta, chúng cũng phải có mắt để nhìn, có tai để nghe, có mũi để thở v.v.. chứ! Chúng cần phải tiếp xúc với nhau, để thu thập thông tin từ môi trường. Có một điều có khả năng khác với ta là có thể họ có một loại não bộ khác hoặc một hệ thần kinh không giống với ta, đi vào bằng những cửa ngỏ khác trên cơ thể.  
         - Thưa Minh Sư, con muốn tìm hiểu điều này nữa, nhưng có thể là hơi tò mò thái quá...
         - Thì chú cứ đưa ra... Điều gì giải thích được, ta giải thích cho chú. Đừng ngại.
         - Chúng có sinh sản hay không? Xin thầy thứ lỗi cho câu hỏi hơi vô duyên này...
         Thầy tôi cười xòa.
         - Sao gọi là vô duyên? Tất cả đều có duyên cả. Nếu không có duyên thì chú với ta ngày nay đâu có gặp nhau ở trên cõi đời này? Phải không?
         Tôi e thẹn gật đầu.
         - Thưa thầy quả như vậy.
         - Đã là sinh vật, dù là sinh vật trên trái đất này hay sinh vật không gian cũng đều phải sinh sản cả. Sự sống của sinh vật dù như chúng ta hay trên vũ trụ phải có nhiệm vụ truyền giống để tồn tại và phát triển, dù theo giới tính hoặc vô tính. Sự sống của sinh vật vũ trụ cũng chẳng khác gì ta đều phải dùng những dạng thức ăn bằng môi trường tự nhiên.

         (Lời giải này trùng hợp với các nhà khoa học ngày nay là "Bất kỳ hình thức sống nào cũng bị ràng buộc  chặt chẽ với môi trường của nó. Vì thế những đặc tính của hành tinh nơi chúng sinh sống sẽ cực kỳ quan trọng trong việc hình dung ra chúng".)


 BÍ PHÁP XUẤT HỒN

         Minh Sư lập lại lời giảng giải của Người về vấn đề đầu tư kiến thức mà tôi muốn được biết rõ ràng hơn:
         - Thưa Minh Sư nếu ta quá sợ hãi về vấn đề bội thực chữ nghĩa trong kinh sách thì các nhà làm văn hóa in sách để làm gì?
         - Ta không khuyên chú là không nên đọc sách quá nhiều mà chỉ nên chọn lọc sách để đọc. Trên thế giới này không nơi nào là không có kinh sách, có điều là làm sao biết chọn lấy những kinh sách nào có thể giúp ta mở mang trí tuệ một cách hữu ích hơn! Điều ta khuyến cáo chú là không nên có tham vọng vượt quá nghiệp quả của mình  để được đạt đến chánh quả nhanh hơn. Làm như vậy chẳng khác nào ta chuốt lấy hậu quả mang họa vào thân, như nhà sư già Nhật Bản kia chẳng hạn...
         Và đến đây, thầy tôi cũng không quên nhắc lại là tôi có một cuộc đời thật đặc biệt, đòi hỏi tôi phải có một tầm kiến thức thâm sâu cần phải được phát triển trên mọi phương diện, nhất là vấn đề "Thần giao cách cảm":
         - Chú cần phải được huấn luyện thật chu đáo bằng tất cả mọi phương pháp mà tôi đã truyền đạt cho chú!  Chỉ trong vòng vài tháng nữa, chú sẽ được luyện "Cảm xạ lực" và "Phối họp thần nhãn" bằng phương pháp viễn thông đúng theo bí pháp của pho kinh vĩ đại nhất thế giới này. Chính đó là một văn hóa phẩm do nhiều chân sư ghi chép tất cả các bí kiếp lưu lại cho loài người. Chú sẽ được huấn luyện theo các bí quyết trong pho kinh vĩ đại này một cách thuần thục. Ta biết trước sự quyết định này khiến chú hoang mang không ít, nhất là khi nhìn thấy các bí quyết đi ngoài đường hướng chủ trương của xứ sở chúng ta.
         Nói đến đây thầy tôi hạ thấp giọng trấn an tôi:
         - Chú yên lòng. Tất cả tuy mới mẻ nhưng đều nằm trong một nguyện vọng chung của nhân loại. Tất nhiên là những bí quyết ấy có khi phải dùng đến những ngoại ngữ mà nhiều danh từ của nó không thấy có trong các kinh sách tu hành của người Tây Tạng... Điều này, chú đừng ưu tư...ta có bổ phận giảng giải cho chú...
         Quả thật, tôi không khỏi phải hoang mang như Minh Sư đã nói. Làm sao tôi thấu triệt được một cách cặn kẽ một khi ngôn  ngữ bất đồng?
         - Lỗ San! Không nên quá ưu tư!  Thầy tôi mỉm cười trấn an. Khi mà cảm xạ lực và thần nhãn của mình được phối hợp một cách thật chính xác thì chú có thể lĩnh hội được tư tưởng ở bất cứ sách vở nào chú muốn một cách dễ dàng.  Đây là một phương pháp ít người  biết đến trong môn thần giao cách cảm. Có nhiều quốc gia trên thế giới có những bảo tàng viện hạn chế nghiêm ngặt hay nói cách khác cấm cản bất cứ ai không chứng minh được mình là một sinh viên do chính phủ nước họ gửi đến tham khảo các dữ kiện hay tài liệu lưu trữ tối mật  của đất nước họ.  
         Tôi buột miệng hỏi :
         - Vậy nếu con muốn đến những nơi ấy cần phải xin giấy giới thiệu của chính phủ ta mỗi khi muốn đến một quốc gia nào đó?!
         - Thì đúng như vậy, song với chú theo ta nghĩ không cần thiết lắm...
         Thấy tôi trố mắt ngạc nhiên, thầy tôi mỉm cười giải thích:
         - Chú có khả năng ngoại lệ là có thể du hành trong "Tinh Thể" để học hỏi những gì chú cần biết. Ta sẽ truyền dạy cho chú sử dụng khoa "Thần Bí Học" này!
         Minh Sư lại nâng chung trà lên nhấm nháp đoạn tiếp tục nói:
         - Lỗ San! Chú nên nhớ rằng sử dụng sai lầm "Thần Lực" hoặc dùng thần lực đàn áp, khống chế bất cứ kẻ nào không cần thiết chú sẽ bị trừng phạt nặng nề. Những giáo pháp bí truyền, siêu hình thượng học, những linh cảm thần thức (ESP) chỉ để giúp đời, nói chung là giúp cho nhân loại và góp phần mở rộng tầm kiến thức cho loài người trên mặt địa cầu này.  Hành động bất cứ một điều gì cũng phải cần đến cái Tâm, như Lục Cửu Uyên (1139-1192) đã đưa ra cái lý mà ông đã chịu ảnh hưởng thuyết vạn vật duy thức của Phật học. Thuyết này cho rằng vũ trụ tức ngã tâm mà cái tâm của ta đó là vũ trụ. Vậy thì chú hiểu chứ, tâm tức là lý. Lục Cửu Uyên cũng đã từng cùng  Chu Hy  tiến hành cuộc biện luận suốt cả mười ngày, được coi là cuộc biện luận  nổi tiếng nhất nơi chùa Nga Hồ tại đất Tín Châu.  Sau này Vương Thủ Nhân đời Minh (1472-1528) phát triển  thành hệ thống triết học duy tâm chủ quan và được xem là hoàn thiện nhất.
         - Vương Thủ Nhân lại khai triển thêm ra về lý luận chứng minh của mình rằng là tâm ngoại vô vật, tâm ngoại vô sự, tâm ngoại vô học v.v.. Ta sẽ truyền đạt cho chú về cái triết thuyết của Vương Thủ Nhân  nói về thuyết "Trí lương tri" và "Tri hành hợp nhất" do ông đã đạt được trong hoàn cảnh "bỗng nhiên nửa đêm giác ngộ ra tôn chỉ cách vật trí tri" vào thời kỳ ông bị đưa đi biếm trích tại vùng Thạch Thừa, Long Tường, tỉnh Quý Châu hoang vu, chung quanh mình chỉ là cây cối, núi non, khỉ ho cò gáy, chẳng có sách vở, ngày ngày chỉ suy tư về những cái đã nghe, những hiện tượng đã thấy... Ông ấy có cần đến sách vở trong thời gian bị lưu đày này đâu mà vẫn thông đạt được cái lý thuận của trời đất hiểu được mọi việc trên đời!  
         Trở lại vấn đề xuất hồn, tôi hỏi Minh Sư:
        - Thưa Lạt Ma! Con muốn biết rõ thêm vấn đề luyện phép "xuất hồn", Minh sư giảng giải cho con biết về sự lợi hay hại của nó.
         - Có nhiều cách tu luyện phép xuất hồn, có cả bí pháp tự mình theo sách vở luyện tập mà không phải nhờ một chân sư nào hướng dẫn. Trong số này, có người dùng "rượu mạnh" hay "ma túy"  hoặc  sử  dụng  chất  kích  thích  tố bằng một liều lượng cao  khiến họ có khoái cảm đến tột độ và mê man bất tỉnh ngay khi đó! Chính trong thời gian đê mê này, tinh thần họ hoàn toàn bị bại hoại, luôn luôn sống trong cơn hốt hoảng bởi bị ảo giác ám ảnh.  Chú nên nhớ rằng "sự sợ hãi" là vấn đề ưu tư hàng đầu trong môn "Thần Bí Học". Đó là điều tối kỵ!  Người quang minh chính đại tinh thần luôn luôn minh mẫn, chẳng bao giờ ưu tư hay sợ hãi trước bất cứ một hiện tượng nào! Sự sợ hãi làm cho tinh thần ta suy sụp, đầu óc ta rối loạn, đó chính là lúc các "Hồn Ma,Tà Vạy" xâm nhập vào đàn áp phần hồn của ta. Chính những người bị say rượu nhiều khi họ nhìn thấy chung quanh mình toàn là những hình ảnh của các giống sinh vật lạ lùng. Có người thuật lại trong cơn say túy lúy ấy, họ đã trông thấy cả voi xanh có sọc đỏ hoặc các giống thú quái đản khác mà họ không thể hình dung được chúng là sinh vật gì muốn xâm phạm đến mạng sống họ?! Chú còn nhớ hình ảnh trong "Cổ Hiền Thạch Động" ngày nào chúng ta đi vào bên trong ấy không?  Nơi ấy chúng ta chính mắt trông thấy một giống vật nửa đá, nửa sinh vật  mà hình ảnh của nó hệt như con kỳ nhông có cánh...... nằm kế cận một một con khủng long hóa thạch.  

         (Gần đây các nhà khoa học Trung Quốc phát hiện một khối đá hóa thạch 120 triệu năm tuổi chứa phôi thai của một con thằn lằn bay, thuộc loài bò sát có cánh  sống cùng thời  với loài khủng long.  Hai nhà khoa học này là Wang Xiaolin và Zhou Zhonghe thuộc Viện Hàn Lâm Trung Quốc tại Bắc Kinh cho biết như vậy. Phôi thai được tìm thấy trong lớp trầm tích của một cái hồ ở Liêu Ninh, địa danh khảo cổ nổi tiếng  có nhiều hóa thạch thuộc vùng Đông Bắc Trung Hoa. Phôi thai được bao bọc trong lớp vỏ trứng gần như hoàn thiện bên ngoài. Điều này cho thấy thằn lằn bay, loài động vật có xương sống đầu tiên trên trái đất, cũng thuộc loại động vật đẻ trứng, cánh nó rộng 10,6 inch (khoảng 27 cm). Những con thằn lằn  bay đầu tiên xuất hiện  trên trái đất cách đây khoảng 230 triệu năm và đã bị tiêu diệt cùng thời với khủng long cách nay khoảng 65 triệu năm.)      

          - Bây giờ thì chú hãy theo ta đến một nơi mà ta có thể luyện cho chú về phép "xuất hồn". Chú muốn thực hiện phép này không?
         Tôi vui vẻ chấp nhận ngay  :
         - Vâng. Điều này con hằng mong đợi!
         Hai thầy trò tôi cùng đi xuống một dải hành lang bằng đá, được một chốc thì quẹo sang bên phải, dẫn thẳng đến một lối rẽ sang bên trái.  Theo lối này chúng tôi  đến một căn phòng tối om ngửa lòng bàn tay cũng chẳng nhìn thấy được.
         Thầy tôi tiến vào trước, đánh lửa lên châm vào cái đèn dầu bơ dựng ngay cạnh cửa. Người bảo tôi ngồi xuống dưới nền đá:
         - Ngày nay chú có đủ thông minh để thu nhận kinh nghiệm của các âm hồn nơi  âm cảnh. Ta sẽ truyền cho chú bí pháp xuất hồn  và ta có bổn phận canh chừng không để lũ ma quái động chạm đến xác thân chú.  
         Đến đây người nhìn tôi mỉm cười bảo:
         - Hãy nằm ngửa xuống nhắm mắt lại, không được nghĩ viển vông làm phân trí trong thời gian tập luyện này. Ta sẽ giúp cho "linh thức" chú thoát ra khỏi xác thân mình. Chú nhớ là hãy để mặc nó muốn bồng bềnh trôi đâu thì trôi, đừng cưỡng lại và chớ nên sợ hãi. Chú nhớ là đừng để cho tâm trí mình suy tư điều gì... Cứ yên lặng để mặc cho linh thức đi đến bất cứ một nơi nào... Ta luôn luôn ở bên cạnh chú...
         Nói xong, người tắt đèn và đóng kín cánh cửa ra vào đoạn quay vào ngồi xuống bên cạnh tôi!  Tôi ngoan ngoãn nhắm nghiền mắt lại theo lời Minh Sư căn dặn. Trong giây lát tôi cảm thấy hơi ấm của người đang ngồi bên cạnh truyền sang và toàn thể châu thân tôi rung lên như người ngồi đồng cốt, đến độ không thể nào cưỡng lại được!  Một luồng ánh sáng xanh trong thân xác tôi từ ngay đỉnh đầu mình bỗng bay vụt lên. Tôi biết đó là linh thân của mình! Sợi ngân tuyến (Silver Cord) cột giữa thân xác tôi cùng linh thân của chính mình đang lơ lửng bay, rồi từ từ bay vút cao lên tận khoảng không gian vô tận. Từ trên không gian mờ mịt đó nhìn xuống, trông thấy bên dưới chỉ là một vũng đen mênh mông dày đặc...
         Lúc bấy giờ tôi nghĩ đến ngọn Thiết Lĩnh, và tức khắc tôi đã lơ lửng ngay  trên đỉnh cao của ngọn núi này. Rồi từ nơi ngọn Thiết Lĩnh tôi bay trở về lại dinh Phổ Đà La, lượn trên cánh đồng Lạt Sa rộng lớn cùng những nơi mà xưa nay tôi chưa bao giờ biết đến...
         Chẳng bao lâu linh thức tôi bắt đầu mỏi mệt.  Sợi ngân tuyến bỗng dưng rung dữ dội, đang từ màu xanh  ngả sang màu vàng nhạt rồi biến sang màu váng sữa... Trong khi đó bất giác linh thân tôi từ trên không trung đột nhiên bị kéo tuột xuống không thể nào gượng lại được.  Rõ ràng là bọn "ác quỷ" kéo lôi linh thân tôi xuống chín từng địa ngục. Thú thật, lúc bấy giờ tôi vô cùng khủng khiếp, quang cảnh rùng rợn dưới cõi âm hiện ra trước mắt từ những hình thù quái đản như hình ảnh của những người say rượu kể lại. Trong số các hình ảnh làm tôi khiếp hãi nhất là một con đỉa khổng lồ mang đầu người có một bảng mặt vô cùng kinh tởm. Màu sắc của nó thật lạ lùng. Da mặt đỏ ké. Mặt mày xanh tái. Mắt lồi và luôn luôn đảo lộn ... Ngoài ra, tôi còn nhìn thấy đủ các loại ma quái khác nữa, trông con nào cũng thật dữ dằn v.v... Tất cả đều cùng nhất loạt phóng đến như muốn cắn đứt sợi "ngân tuyến" đang ràng buộc giữa xác thân cùng linh thân tôi...
         Mấy hôm sau Minh Sư cho biết  xuất hồn là một trong các bí pháp tu tiên của các đạo gia Trung Hoa về Lửa Tam Muội mà người Tây Tạng gọi là Toumo, ta gọi  tâm nhiệt hay psychicheat. Theo sách Chân tiên bí truyền, hỏa hậu pháp có đề cập đến "Lửa Tam Muội" đại ý "Tâm là quân hỏa được gọi là thượng muội; còn thận là thần hỏa  gọi đó là trung muội, bàng quang là dân hỏa gọi là hạ muội. Ba khí này tụ lại mà sinh ra lửa, do đó mới gọi là Lửa Tam Muội".
         Các Minh Sư Ấn Độ và Tây Tạng nói lên cách rút  Prana và từ cái bình vô tận này của thiên nhiên  nạp lại vào cơ thể từ đó biến thành năng lượng tinh tế, sinh ra một thứ tâm nhiệt thần diệu chuyển vận sưởi ấm toàn thân con người.  Tất cả đều dựa vào cách hô hấp có phương pháp  tạo thành Prana, biến nó thành một thứ năng lượng vi diệu sưởi ấm toàn thân khiến từng tế bào trong cơ thể được kích thích... Xuất hồn cũng bằng bí pháp này mà ra.
         - Con người có thể vượt bể cả không bằng thuyền bè, mà chỉ bằng một cành lau. Chú có thể tin không ?
         Tôi gật đầu song không đáp để khẳng định. Thầy tôi tiếp tục:
         - Đó là sự thật. Sư Bồ Đề Đạt Ma từ Tây Trúc sang Trung Hoa truyền đạo, trụ trì tại chùa Thiếu Lâm trên ngọn núi "Thiếu Thất Sơn". Chính nơi này người đã dạy cho các Thiền sư Trung Hoa về cung cách luyện khí, phép quán tưởng cùng phép Thiền định...Về sau người người chỉ dùng một cành lau mà vượt qua sóng cả trùng dương để trở về quê hương xứ sở. Bí pháp này chú cần phải biết, nó là một vấn đề cần thiết không thể thiếu được trong nhiệm vụ quan trọng sau này chú sẽ phải đảm trách.  
         Con người có thể vượt qua các đại dương mà không cần phải sử dụng đến thuyền bè, như Sư Bồ Đề Đạt Ma từ Tây Trúc sang Trung Hoa truyền dạy các phép quán tưởng cùng phép luyện khí, có thể làm cho con người mất hẳn trọng lực!
         Ngày trở về nước, trước đám môn đồ, ngài thực hiện phép khinh thân đứng trên một cành lau nhẹ nhàng lướt đi trên mặt bể ...
         - Ta tin rằng phép khinh thân đối với chú chẳng có gì khó khăn cả. Chú chỉ cần thu thập chu đáo về các nguyên tắc căn bản là có thể thực hiện ngay được. Trong tương lai gần, nhiệm vụ mà chú sẽ được giao phó sẽ phải cần dùng đến pháp thuật khinh thân này!
         - Thưa Minh Sư, có thể cho con biết  nhiệm vụ của con sắp phải nhận lãnh đó không?
         - Không!  Thầy tôi lắc đầu nói. Công việc sắp giao cho chú là một vấn đề tối mật, ta không thể tiết lộ theo lời yêu cầu của chú.  Nhưng chú đừng quá ưu tư, chúng ta còn đang trong thời kỳ chuẩn bị...Từ hôm nay đến ngày chú lên đường để hoàn thành sứ mệnh hãy còn lâu... Có gì khiến chú phải sợ hãi đâu?
          Đến đây, Minh Sư Minh Dà Đông Đạt mỉm cười trấn an tôi:
         - Không có điều gì phải lo lắng cả, Lỗ San ạ!  Với chú thì mọi việc sẽ an lành. Chỉ có những người gây nên tội ác đem lại sự chết chóc cho mọi người mới cảm thấy run sợ!
         Bên ngoài bóng hoàng hôn buông xuống một màu vàng vọt... Người đảo mắt  chung quanh một lượt, đoạn quay lại nhìn tôi tiếp tục:
         - Ma quái dưới Cõi Âm  lúc nào cũng đem lại nỗi kinh hoàng  cho những kẻ gây nên lắm điều tội ác! Họ hãi hùng run sợ chẳng những trong cơn ác mộng mà ngay cả ban ngày cũng không làm sao yên ổn được!  Tâm tư họ luôn luôn bị dằn vặt, bởi những hành động tội ác do chính họ đã gây ra. Lỗ San ạ! Tích thiện phùng thiện, tích ác phùng ác... chú thừa rõ điều này. Làm điều thiện luôn luôn cảm thấy lòng mình thanh thản như vào chốn Đại Tự Du Khang  tâm hồn lâng lâng thơ thới, Những kẻ làm điều ác đức khác nào  lạc vào chốn lao ngục tù hình - nơi từng diễn ra những cảnh  cực  hình  tràn đầy đau khổ - họ sẽ  cảm thấy lòng mình quặn thắt lại, tưởng chừng như chính mình là những nạn nhân đang bị hành hạ trong cảnh tận cùng đau khổ đó... Chú hiểu điều này chứ?!  Với chú đâu có gây nên tội ác gieo rắc bao nỗi tang thương cho thiên hạ thì có gì phải sợ hãi?!
         Thầy tôi im lặng trong giây lát  đoạn đưa tay chỉ ra bên ngoài phòng nơi Thiền Viện:
         - Lỗ San! Chú hãy nhìn ra bên ngoài rặng núi kia, chú có trông thấy gì không?
         Tôi phóng mắt nhìn theo hướng chỉ của Minh Sư :
         - Đó là các đốm lửa đang bập bùng cháy...
         - Không, chú hãy nhìn kỹ lại xem... Đó là những bóng  đen chập chờn đi trong bóng đêm dày đặc... Chúng không phải là những đám lửa mà là những linh ảnh mà chú đã có lần nhìn thấy... dạo nào nơi dãy Hy Mã Lạp Sơn huyền nhiệm này...
         - Vâng, con đã có lần trông thấy... Đó là những bóng ma... Thưa Minh sư, chúng cũng chẳng khác linh hồn, tại sao chúng không siêu thoát hoặc trở về Cõi Âm để hoàn thành những điều cần thiết, để được hóa thân hay đầu thai vào kiếp khác.
         - Đó là hiện tượng của những người chưa muốn chết!
         - Các  linh hồn này còn lưu luyến với thế gian, có thể vì tình cảm, hoặc vì một sự tiếc nuối nào đó mà họ không thể nào dứt bỏ đi được... Họ đã trở thành những hồn ma vất vưởng... như chú đã nhìn thấy đó... Chúng ta muốn giao tiếp với những linh hồn này chẳng có gì khó khăn cả. Nhưng với các nhà khoa học thì không tin như vậy. Họ không tin có những sự huyền bí mà cho đó là những hiện tượng thuộc phạm vi khoa học  chưa có lời giải thích! Nhưng khi được hỏi đến linh hồn, thì họ đã tự dối mình bằng sự im lặng...
         Im lặng trong giây lâu, thầy tôi gật đầu chậm rãi nói tiếp:
         - Họ giữ im lặng, không đồng nghĩa với sự chối bỏ.
         - Như vậy chẳng hóa ra họ mâu thuẫn chính ngay với mình sao?
         Minh Sư mỉm cười không đáp lại lời này của tôi.

         (Cách đây 3 năm, Richard Wiseman được cấp phép tiến hành các thí nghiệm tại hai trong số các địa điểm bị ma ám nổi tiếng thế giới, đó là cung điện Hampton  Court gần London và cây cầu Nam Edinbourg xứ Ecot. Địa điểm đầu tiên là nơi ở cũ của Hoàng đế Henri Vlll, theo nhiều lời  đồn đãi thường xuất hiện bóng ma của Hoàng hậu thứ V - người đã bị kết án tử hình vào thế kỷ thứ 17 về tội ngoại tình. Còn về địa điểm thứ hai, dưới vòm cầu nơi có hàng trăm xác chết  - nạn nhân của bệnh dịch  hạch vào thế kỷ thứ 17. Bị lãng quên một thời gian, nhưng sau đó, những địa điểm ma quái này được mở cửa lại vào năm 1996. Và cũng kể từ đó người ta lại thấy các bóng ma bắt đầu lảng vảng...
         Richard Wiseman chọn ra 700 người tình nguyện tham gia quá trình nghiên cứu, với một số câu hỏi  trong tay, họ được đưa vào những địa điểm Ma có nhiệm vụ ghi lại tất cả những gì khác thường trong mỗi một gian phòng. Kết quả là một nửa số người tình nguyện có ít nhất một lần có một cảm xúc "kỳ quặc", thậm chí họ có cả cảm giác  nhìn thấy sự hiện hình của những linh hồn  mà họ không thể giải thích  và họ vẫn quả quyết cho rằng thực sự những gì họ vừa nhìn thấy đó là những bóng ma...
         Để khám phá những bí ẩn này, Richard Wiseman  và nhóm của ông  đã  xem  xét tỉ  mỉ vài địa điểm được xem là nhiều ma nhất và  một khu vực bình thường. Họ đã sử dụng những từ kế siêu chính xác để đo từ trường,thiết bị kiểm tra sự di chuyển  của không khí và máy đo lường độ ánh sáng. "Những kẻ săn ma" nghiên cứu cả các lối đi khác nhau ở đường quanh và ở các độ cao khác nhau.
         Kết quả đầu tiên: Trong những gian phòng bình thường ở Hampton Court, từ trường gần như tương đương với từ trường của Trái Đất, 50 microtesla (VT), nhưng trong các gian phòng Có Ma máy đo ghi nhận có những thay đổi đột ngột về từ trường, dao động một vài phần 10 microtesla trong vòng vài phút.  Những biến đổi này  có thể liên quan đến hệ thống điện chiếu sáng trong lâu đài.
         Giả thuyết từ trường của Richard Wiseman  dường như không đi đúng hướng, vì lẽ rằng  tại địa điểm thứ hai, cây cầu Edinbourg, người ta không đo được bất cứ một thay đổi nào của từ trường cả.  Thường ở những khúc quanh tối nhất, lớn nhất và có trần cao nhất thì những cảm giác kỳ lạ xuất hiện nhiều nhất.
         Có thể đó là những khu vực  mà người ta cảm thấy  nhỏ bé và vô nghĩa nơi mà trò chơi của bóng tối phát huy nhiều nhất - theo lời của Richard Wiseman bình luận.  Và ông kết luận một gian phòng có bầu không khí u ám rất thuận lợi cho việc xuất hiện của các bóng ma).

         Tuy nhiên sau đó, thầy tôi giải thích  về "cái nhìn" của con người, không phải duy chỉ đối với các vật hữu hình  mà luôn cả những hình ảnh vô hình  mà ta thường gọi là bóng ma.
         Đối với các nhà khoa học tự cho là mình hiểu biết tất cả về các hiện tượng, họ không tin tưởng những hình ảnh có tính huyền bí mà chúng ta nhìn thấy là sự thật.
         - Thế, thưa Minh Sư, họ bảo đó là gì?
         - Ảo giác... Họ nghĩ rằng những hình ảnh chúng ta nhìn thấy đó chỉ là ảo tưởng mà thôi.
         Có lắm lúc ta nhắm nghiền mắt lại, vận dụng bằng cảm xúc, cũng có thể biết một cách rõ ràng những hình ảnh nào đang ở cạnh chúng ta! Lỗ San, chú có tin điều ấy hay không? Đó là sự thật. Có lẽ chú cho là tất cả mọi sinh vật trên thế gian này đều nhìn bằng mắt phải không?
         - Thưa thầy, nếu không thì ngoài đôi mắt như loài người chúng ta, chẳng lẽ còn có sinh vật nào không nhìn bằng mắt nữa hay sao?!
         - Ta nghĩ chú còn nhớ trong Cổ Hiền Thạch Động mà dạo nào chú cùng ta đứng cạnh một hồ nước, trong đó có đàn cá đủ mọi hình dạng... Có những con như thể một quả bóng không mắt, không mang, không miệng... ấy thế mà nó vẫn bơi lội và tránh được những chướng ngại chung quanh mình.
         Nghe Minh Sư nhắc lại tôi sực nhớ ra, đúng  là có loài cá này. Chẳng những vậy, mà còn có những loại cá hình thù khác thường, mới nhìn thoáng qua cứ nghĩ rằng nó không phải là một sinh vật...
         - Vâng, thưa thầy, quả như lời Minh Sư dạy...

         (Các nhà khoa học của thế kỷ 21 này đã khám phá ra là trong quá trình tiến hóa sinh giới, không phải loài động vật nào cũng có mắt. Loài cá lưỡng tiêm  kích thược bằng con dao nhỏ, thường sống ở ven biển hoặc ở giữa đại dương không hề có mắt riêng biệt mà chỉ có những tế bào cảm quang hiện diện dọc theo đường dây thần kinh. Vì chúng có một cơ thể trong suốt như thủy tinh nên  ánh sáng dễ dàng lọt vào để tác động trên các tế bào cảm thụ đó và giúp phân biệt được sáng và tối.
         Trong môi trường đất, cơ thể động vật không thể trong suốt và những tế bào cảm quang kiểu cá lưỡng tiêm không phù hợp. Vì vậy động vật này phải nhìn bằng các tế bào cảm quang ở mặt ngoài cơ thể.  Chẳng hạn, giun đất đâu có mắt nhưng trên da của chúng  lại có vô số tế bào cảm quang để tiếp nhận ánh sáng, đó là những con mắt nhỏ và vì loại mắt quá đơn giản nên chúng rất cần số lượng cảm quang rất lớn.
         Tuy nhiên trong quá trình tiến hóa của sinh giới, nếu mắt cứ tồn tại rải rác ở trên da thì thật phiền phức và cũng chẳng thích hợp nữa.Vì vậy đến một mức độ phát triển, phần cao cấp nhất  của hệ thần kinh - tức là não - phát triển mạnh thành hai mẫu nhỏ để tách riêng  rồi chuyển đến da và từ đó tiến triển để tạo ra... hai con mắt. Như vậy, chúng ta thấy mắt chỉ là một phần của não.
         Đối với con người, mắt hình thành rất sớm vào khoảng tuần lễ thứ ba của thai kỳ. Khi đó phôi chỉ dài 3 m. Mắt bắt nguồn từ não dưới dạng hai túi thịt nguyên thủy, lồi dần ra phía trước để rồi... cuối cùng tạo nên... võng mạc. Đây là phần nhạy cảm nhất của mắt đối với ánh sáng. Về sau, vào khoảng tháng thứ hai của thai kỳ, lớp da của thai mới tạo nên những thành phần  khác với mắt  như thủy tinh thể. (còn tiếp)
     
Về Đầu Trang
nhungocnguyen



Ngày tham gia: 22 Nov 2011
Số bài: 890

Bài gửiGửi: Mon Apr 14, 2014 1:44 am    Tiêu đề:

Những Chuyện Huyền Diệu Trên Hy Mã Lạp Sơn (Đoạn kết)


        Hình ảnh đi vào mắt người trước tiên phải qua giác mạc. Đây là một màn mỏng giống như da nhưng không được trong suốt. Qua giác mạc, hình ảnh lọt vào tiền phòng của mắt, nơi chứa dịch thủy - nước này có nhiệm vụ nuôi dưỡng thủy tinh thể - đoạn lọt vào buồng tối chứa dịch kính. Qua dịch kính, hình vật hiển hiện trên võng mạc hệt như hình ảnh in trên phim của máy ảnh v.v...
         Đôi mắt chỉ là những bộ phận thu hình, còn não mới phân tích, tổng hợp những thông tin của hàng triệu tế bào cảm quang gửi về để tạo nên cảm nhận hình ảnh. Chính não mới tái hiện rõ rệt  các hình thái sắc màu do hai mắt đã ghi nhận được. Điều này khiến các nhà nghiên cứu đặt ra câu hỏi, phải chăng vì vậy, nhiều lúc con người chỉ "trông" mà không nhìn thấy. Nói cách khác mắt "trông" và não "nhìn". (Theo Discovery Health).


*******************

         Không hiểu làm sao tôi trở lại vấn đề của sự sợ hãi:
         - Thưa Minh Sư, thật ra cái gì làm cho con người phải sợ hãi?
         - Tâm hồn chú chẳng khác nào như tấm vải trắng không hề bợn lấy vết nhơ, tất nhiên là tâm hồn chú luôn luôn sống trong cảnh an lành. Vậy thì, chú chẳng có gì phải sợ hãi. Những kẻ gây nên điều tội lỗi, họ nhúng tay vào máu, tất nhiên họ phải trả nợ máu, lương tâm họ cắn rứt khi hồi tưởng lại những việc làm vô cùng tai hại của mình.                                                                      
         Minh Sư đặc biệt nhắc lại câu chuyện xuất hồn của tôi và cuối cùng Người khẳng định: "Linh Hồn chẳng bao giờ bị Tiêu Diệt! Nó là nguyên tắc của đời sống và cũng là nguyên nhân của cảm giác. Vũ trụ là một sức mạnh phi thường. Nó vừa là hiện thực mà cũng vừa vô hình vô ảnh.  Nó ngự trị ngay cả trong lục phủ ngũ tạng chúng ta và gắn bó mãi cho đến khi cái xác thân bị mục nát! Xác thân có mục nát và cuối cùng trở về với cát bụi, song linh hồn thì vẫn mãi mãi tồn tại! Linh hồn không đứng yên một chỗ, luôn luôn biến hóa một cách phi thường. Những ai có trình độ nhiếp hồn đều biết  chỉ có một thế giới tâm linh mới là thế giới trường cửu và bất biến. Nó là "một". Không phân biệt. Không phân hóa. Không tất định.  Còn thế giới hiện hữu của chúng ta đang sinh sống chỉ là một  cõi tạm bợ, nơi mà Đấng Tối Cao dành cho chúng sinh tu tập, ăn năn,sám hối...
         Sau khi Minh Sư Minh Dà Đông Đạt  châm lửa vào ngọn đèn dầu bơ, nhìn tôi cười nói:
         - Thật vô cùng tuyệt diệu. Lỗ San ơi, lần đầu tiên  chú thực hiện được một bí pháp vô cùng huyền nhiệm một cách trọn vẹn. Phép  xuất hồn không phải bất kỳ ai cũng có thể thực hiện được, mà nó đòi hỏi phải có một trình độ tuyệt luân như chú chẳng hạn. Nếu tư tưởng chú trong trắng và lòng chú không hề vướng mắc các hành động tội lỗi cùng những dục vọng tầm thường thì chẳng có gì có thể ngăn cản được chú. Sự sợ hãi phát xuất từ những con người phạm điều tội ác. Ma quái dưới cõi Âm sống nhờ vào những kẻ sợ hãi mà môi trường sống của chúng được nuôi dưỡng bởi những kẻ bị lương tâm dày vò cắn rứt.
        Thầy tôi nói đến một nhà sư người Miến Điện :
         - Ông ấy có một tư tưởng thật điên rồ đến độ như ngu xuẩn. Ông ta là một tăng sĩ thuộc cấp dưới, chẳng có lấy chút kiến thức nào.
         - Có phải là nhà sư mà con đã từng biết đó không ?
         - Đúng là nhà sư đó!
         Tôi ngạc nhiên gạn hỏi:
         - Đã biết như vậy, tại sao chẳng những ông ta được núp dưới  bóng Thiền Viện mà còn được cấp cho một am nhỏ để thiền định nữa?
         - Vì cùng một dòng tu nên nhà sư này cũng hưởng được đặc quyền như các vị Lạt Ma khác.
         - Vậy khi nhập am ông nhà sư ấy có thực lòng thiền định tu hành hay không?
         - Không! Thay vì tu hành thì ông ta nghĩ đến quyền hành và dựa vào thế lực của một quốc gia hầu có được quyền bính trong tay để tự tung tự tác tại Miến Điện sau khi ông đã thành công.  
         - Có chứng minh gì mà chúng ta được biết ông ta có mưu tâm như vậy?
         - Có chứ.  Ông ta từng tuyên bố chính là Hoàng Tử xứ Miến. Thật ra, đó chỉ là lời lẽ tự phong mà thôi. Ông ta từng tuyên bố sẽ làm cho đất nước Miến Điện hùng mạnh... dưới sự lãnh đạo của chính mình.  Sau lời tuyên bố này, ông bắt đầu tập trung một số sư sãi bí mật ở dưới trướng mình với những lời lẽ hứa hẹn sẽ phong cho họ chức quyền để cai trị đất nước.
         - Và những kẻ dưới trướng khứng chịu?
         - Tất nhiên. Ông ta phong cho họ chức quyền, hứa cho họ tài sản... ai lại chẳng thích? Và, cũng kể từ đó ông được tôn xưng là một Đại Hoàng đế... trong am. Cũng từ đó nhà sư Miến Điện lén lút luyện các pháp thuật của tà giáo cũng như biến các pháp thuật chính thống chen lẫn với các phép ma quái biến thành một quyền phép vô cùng nguy hiểm. Thời gian thấm thát trôi qua, lâu ngày nhân thể quang của ông ta đổi ra màu sắc  khác thường, không còn giống như những nhà sư của chúng ta. Tính nết và hành động của nhà sư Miến này hoàn toàn biến cải,  ảo vọng của ông ta không còn là nhà tu khổ hạnh nữa mà trở thành một vị Hoàng Tử đầy hách dịch, tự tung tự tác, bất chấp cả nội qui của Thiền Viện.
         Một hôm, vị đại Hoàng Tử tự phong nói với một vị trụ trì:
         - Này tên nông nô trong vương quốc ta ơi! Hãy làm những việc gì ta phán bảo, vì ta là một Đại Hoàng Tử trong cõi đời này!
         Tiếc thay cho vị đại Hoàng Tử tự phong là gặp nhằm vị trụ trì không phải là người điềm đạm, nên ra lệnh trừng phạt một cách nặng nề. Vì quá nhục nhã nên ông ta phát điên lên và cũng từ đó vị Đại Hoàng Đế ảo tưởng này biến thành một nhà sư khùng bất trị.
         Đến đây Minh Sư nhìn tôi trong phút giây đoạn lên tiếng tiếp:
         - Giáo lý nhân quả nhằm vào đạo đức. Chẳng những vậy, nó còn bao hàm luôn cả về trật tự luân lý nữa. Nếu không có nhân quả chắc chắn thế giới vật lý này sẽ bị đảo lộn. Luật nhân quả cho thấy những việc làm tốt của một cá nhân sẽ làm tăng thêm phần phước đức cho toàn thể mọi người.  Còn trái lại việc làm xấu chẳng những làm hỏng cho cá nhân mình như ông sư Miến Điện này, mà còn gây phương hại cho toàn thể nhân loại. Nhưng đó là chuyện ông nhà sư...khùng, còn với chú thì không vậy. Điều  cần thiết là lúc nào chú cũng phải bình tĩnh, dù gặp nguy hiểm đến đâu cũng vậy. Đừng hốt hoảng, bằng không sự sợ hãi đó sẽ làm phương hại chẳng những đến công trình hoạt động trong cuộc sống hiện hữu mà còn ngăn chặn cả sự tiến hóa của linh hồn chú.... Đó mới là vấn đề quan trọng. Mơ ước hão huyền, mộng ảo triền miên chỉ đưa con người đi vào con đường tà đạo.  Nếu cứ để tâm tư mình chìm đắm vào vòng  mộng tưởng mông  lung  không tránh khỏi xa lìa thực tế, bỏ phế chánh đạo để chạy theo tà đạo gây nên bao cảnh đau thương tang tóc. Đừng bao giờ để lòng ham muốn của mình lạc lõng vào những mơ ước tầm thường khiến cho thể quang phải mờ ám... Thế giới này đã là ảo ảnh thì mọi điều trên thế gian này đâu phải là thực? Không phải là thực thì mọi cám dỗ của nó không thể nào lôi cuốn ta đi vào con đường lầm lạc được. Có phải thế không Lỗ San?!
         Lời của Đức Lạt Ma Minh Dà Đông Đạt đã làm tôi suy nghĩ nhiều. Đối với nhà sư Miến Điện kia, ông ta muốn được cùng tu hành và chung sống dưới mái ấm của Thiền Viện, tại sao các bậc Lạt Ma Tối Cao không giúp đỡ ông ta tỉnh ngộ lại trở về với đạo hạnh?
         Tôi ngẩng mặt lên nhìn Minh Sư lên tiếng:
         - Thưa thầy, tại sao chúng ta lại làm ngơ trước sự lầm đường lạc lối của nhà sư Miến Điện này?
         - Chúng ta chỉ được phép giúp đỡ những người nào đáng được sự giúp đỡ mà thôi.
         - Con muốn được hiểu làm sao phân biệt được người nào cần được giúp đỡ và người nào lại không được hưởng ân huệ đó?
         - Môn "Bí Pháp Thần Lực" đã ghi rõ ràng là đối với những người không muốn hưởng được sự giúp đỡ sẽ không đủ điều kiện để được chúng ta chu toàn. Chúng ta không dùng khả năng sử dụng bí pháp để hưởng nhận sự khen thưởng, mà chỉ áp dụng "Bí Pháp Thần Lực" để làm tăng trưởng trên đường tu hành hầu tiến đến sự "Thăng Hoa Viên Mãn".  Bí Pháp Thần Lực chẳng những giúp cho loài người thêm phần tăng trưởng mà còn bao gồm cả thế giới sinh vật trong khắp vũ trụ bao la này.
         Đến đây, Minh Sư bỗng im lặng đưa mắt nhìn ra bên ngoài như tuồng để tiếp nhận luồng điện thần giao cách cảm nào đó đưa lại. Giây lâu sau, Minh Sư mới quay lại nhìn tôi tiếp tục giảng giải:
         - Rồi đây, chú sẽ chứng kiến biết bao nhiều chuyện mà chú không ngờ tới.  "Con Mắt Thứ Ba" của chú sẽ được mở rộng hơn lên. Chú sẽ được các vị Lạt Ma thuộc hàng siêu việt truyền đạt cho chú các bí pháp nhiệm mầu... Chú sẽ nhìn tận mắt lắm cảnh tượng khiến chú chán ngán cho nhân tình thế thái... Chú sẽ thấy cảnh "ném tiền" để được gọi là lòng từ bi bác ái của  những kẻ cao sang quyền quý, giàu tiền lắm bạc...Và, chú cũng sẽ được nhìn thấy những bào thai đang mang tật nguyền ngay trong lòng mẹ chúng, cùng những con người hiền lương đang sống trong cảnh an lành bỗng dưng điên cuồng đau khổ!
         Người nắm lấy tay tôi hạ thấp giọng:
         - Lỗ San à!  Đời sống không bằng phẳng như mặt nước hồ thu... mà nó đầy cả chông gai, cạm bẫy... Một ngày đẹp trời nào đó chú sẽ gặp được một y sĩ tài ba, nhưng chú sẽ làm cho người y sĩ này sẽ phải kinh hoàng vì chính ngay thần lực của chú. Chú sẽ được nhìn tận mắt những bức tranh "kỳ bí". Chú sẽ được đưa đến "Mật Điện" để tham quan và cũng để thảo luận một vài vấn đề "Bí mật hơn những điều bí mật" về một nhà sư nổi tiếng tại nơi này. Đó là Đức Marfata - sẽ nói những gì về về tỉnh thành Calcutta của xứ Ấn. Cũng tại nơi này chú sẽ nhìn thấy tận mắt cái "Hố Đen" kỳ quái và chính chú trở thành vị tiên tri khiến cho mọi người phải sửng sốt!  Chú ngạc nhiên ư ?! Chẳng có gì đáng phải ngạc nhiên riêng đối với chú!
         Đến đây, người nắm chặt lấy tay tôi:
         - Ôi! Lỗ San ơi! Chú sẽ còn chứng kiến lắm sự bí ẩn... ví như, chú sẽ thấy cái máy nhìn "nhân thể quang", máy này dùng cho những kẻ không có nhãn thông. Chú sẽ chứng kiến và học hỏi được lối áp dụng về nguyên tắc tha phách (Heterodyme) phối hợp... Nhờ đó chú sẽ phân biệt được tính tình con người qua màu sắc của thể quang. Chú sẽ đo được sự rung chuyển của tất cả mọi cảnh giới hiện hữu trong vũ trụ... kể cả tốc độ chuyển vận của một con người... Chú sẽ nhìn thấy được  các vị thần hộ mệnh cũng như những linh hồn đã thoát vòng u muội cùng những hình ảnh trong A Lại Da Tàng Thức... Đặc biệt là nơi này chú sẽ được giữ nhiệm vụ lau chùi kinh sách. Chú sẽ biết lý luận về đường tình ái và sự cần thiết của đời sống con người. Chú sẽ nhìn được "Đức Ông và Đức Bà" ở trên Địa Cầu này cùng sự khắng khít giữa hai linh hồn luôn quấn quýt bên nhau giữa khoảng không gian vô định...
         Minh Sư Minh Dà Đông Đạt thao thao bất tận. Còn tôi thì hết từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác mở mắt thao láo nhìn... không bỏ sót một lời nói nào của người.
         - Lỗ San! Quả thật chú có diễm phúc. Rồi đây, ta sẽ đưa chú đến Ngọc Báu Linh Nga (Norbu Linga)  còn được gọi là Kim Ngọc Viên  - nơi có muôn hồng nghìn sắc, có dòng sông hạnh phúc trong lành... Chú sẽ được lý luận về người đàn bà và sẽ nhận thấy ý thức của loài vật chẳng khác gì loài người chúng ta, cũng ưu tư, cũng nôn nóng, cũng biết sống bên nhau, cùng chia bùi xẻ ngọt, an ủi nhau khi vui buồn hay tủi hận...    
         Đến đây thầy tôi quay lại về vấn đề kinh kệ:
         - Chú sẽ có một lý luận mới về Kinh Hoa Nghiêm...và thuộc nó từng dòng, từng chữ... Chú sẽ nhìn thấy sự tàn nhẫn của nhà sư giáo sư dạy về tu luyện và chú sẽ có được một khoa thôi miên toàn hảo. Cuối cùng chú sẽ nhận thấy kỷ luật là con đường tốt nhất đưa ta đến chỗ thành công trọn vẹn... Rồi một ngày không xa mấy, chú sẽ được đưa đến Trùng Khánh  nơi mà ta có lần tiết lộ với chú trong những năm tháng sắp đến... Chú sẽ học được nhiều điều hay nơi đó.
         Tôi cảm thấy như trước mắt mình là cả một phương trời tràn đầy ánh sáng. Niềm ước mơ càng lúc càng làm cho tôi rạo rực.
         - Người ta tìm đến xứ sở Tây Tạng không phải chỉ để học nặn tượng, học đọc kinh, mà họ cần phải học những thứ gì trong tinh thể cảnh giới sau khi ta rời khỏi trái đất này. Như chú đã biết, thế giới mà chúng ta đang tạm trú này chỉ là ảo ảnh, nhưng chính ở chốn ảo ảnh này lại rất hữu ích cho việc học...  Càng học càng phải chịu đựng những cảnh khó khăn, và cũng vì vậy chúng ta phải học để thấu triệt những nỗi khó khăn đó...
         Thầy tôi mỉm cười:
          - Chú có ngại khó khăn không, hả Lỗ San?!
         - Thưa thầy, con  đã chấp nhận ngay từ tấm bé thì mọi sự khó khăn đến mấy  cũng chẳng dễ gì lay chuyển được ý chí tu hành của con được...
         - Thầy rất khâm phục ý chí của chú. Chú hãy nhận nơi đây lời khen tặng chân thành của ta...

NHỮNG THÂY MA TRONG LỖ ĐEN VŨ TRỤ

        Rồi đây chú sẽ có dịp đến khu La Nhĩ Áp (Ragyab) - Khu mà tất cả những xác chết được phân ra từng khúc vứt ra khắp mọi nẻo đường để cho đám kên kên keo RỐI nhau đến cùng nhau xâu xé... Có lẽ chú không khỏi ngạc nhiên khi nghe ta nói đến câu chuyện khó tin nhưng có thật này...
         - Đừng ngạc nhiên gì cả. Đây là một nhu cầu cần thiết như trăm nghìn các nhu cầu khác. Vùng Lạt Sa toàn sỏi đá, đất rắn đến độ khó lòng đào huyệt để chôn xác người chết được. Vả lại như chú biết, Tây Tạng là một xứ lạnh, thi thể con người khi được chôn xuống  sẽ bị đông cứng lại, không thể nào tiêu đi được. Xác không tiêu hủy được là một điều tối kỵ... Như chú biết đó, thi thể của con người là một  cái vỏ được đắp lên bằng vật chất biểu hiện cho chiếc áo khoác bên ngoài của linh hồn.
         Tôi sực nhớ lại lời của người bạn Nhật - anh Ikuta đã nói anh từng nhìn thấy bóng dáng của linh hồn, và tôi kể đầu đuôi câu chuyện lại cho Minh Sư Minh Dà Đông Đạt:
         - Bạn con - Ikuta -  có lần vui miệng thuật lại cho con nghe, chính mắt anh ấy đã từng nhìn thấy những hình ảnh của linh hồn hiện lên và xuyên qua các tường đá một cách chẳng có một mảy may nào khó khăn cả. Anh ấy bảo các bức tường đá chỉ là sự cấu tạo của các tế bào rung chuyển. Một khi các tế bào di chuyển rung động tạo ra các kẽ hở ở giữa hai tế bào tách rời nhau ra. Nhờ vậy mà các linh hồn có thể xuyên qua tường đá một cách dễ dàng như ta ra vào các cửa nẻo của một ngôi nhà ta đang ở vậy.
         - Đúng! Đúng thế Lỗ San ạ! Ikuta - bạn của chú có lý. Nó là sự thật. Linh thể đi xuyên qua bức tường đá không có gì trở ngại cả. Rồi một ngày nào đó chú sẽ nhìn thấy...hình dạng của tổ tiên ta sống hàng bao nhiêu thế kỷ trong Cổ Hiền Thạch Động, họ là những người sống thật bằng xương, bằng thịt  chứ không phải là linh hồn... Họ -  các bậc tổ tiên của chúng ta đó -  có thể xuyên qua các bức tường đá như các linh ảnh mà chú từng nhìn thấy.  Chú sẽ thấy những bậc tổ tiên sống hàng bao nhiêu trăm năm ấy không như những ông cụ của chúng ta còn ở giữa trần gian này có những mái tóc bạc phơ, cùng những chòm râu bạc phếu...lưng còng gối mỏi...da dẻ nhăn nheo v.v..  mà các đấng tổ tiên này là những trang anh tuấn da dẻ hồng hào...có thể khiến chú có ý nghĩ họ còn nhỏ hơn cả chính chú nữa...  Không. Đó là các cụ tổ tiên của chúng ta - đã từng sống hàng bao thế kỷ. Họ là những người không chết! Không bao giờ chết. Chú có tin không ?
         Tôi ngắt ngang lời Minh sư hỏi:
         - Các bậc tiền nhân ấy không bị lão hóa sao, thưa thầy?
         - Không.  Họ có bí pháp giữ nguyên được lớp vỏ vật chất bên ngoài...
         - Bí pháp? Đó là bí pháp gì, thưa Minh sư?
         - Bí Pháp Thần Lực. Chính bí pháp này đã giúp cho các bậc  tiền nhân ấy sống mãi đến ngày nay trong Cổ Hiền Thạch Động và ngay cả trong Động Hoa Vàng - có dịp ta sẽ giảng giải cho chú... Chú sẽ nhìn thấy các bậc tiền nhân hiếm hoi này chợt biến, chợt hiện và họ cũng sinh hoạt như những người ở giữa thế gian này... Với các bậc tổ tiên đó không như các linh ảnh chập chờn biến hóa...mà họ còn mang luôn cái vỏ được tạo dựng nên bằng các tế bào vật chật bên ngoài, nhưng đối với họ thì chẳng có gì có thể ngăn cản họ được trong khi di chuyển.  
         - Thưa Minh sư, chẳng lẽ người nào cũng tươi trẻ cùng một mức độ như nhau sao?
         - Không.  Mức độ già trẻ tùy theo ngày đắc đạo...
         Đôi mắt thầy tôi đăm chiêu trong giây lâu, đoạn tiếp tục giảng giải :
         - Không phải ở giữa khoảng không gian mênh mông kia chỉ là một khối trống rỗng, mà nó cũng  là kết tinh của hằng hà sa số những tế bào khinh khí kếp hợp lại. Chú đừng nghĩ rằng các tế bào này hoàn toàn bí mật từ chiều rộng và luôn cả trọng lượng của nó khó lòng đo lường được
         - Có nghĩa là họ có thể đo lường được cả linh ảnh sao?
         - Đúng vậy. Người ta có thể đo đạt cũng như trắc lượng được về sự hiện hữu của  các hồn ma đang lẩn quất ở giữa không gian này. Con người có thể làm được những gì trái với qui luật thiên nhiên mà không phạm điều tội lỗi. Như ta đã từng giảng giải về vấn đề làm mất hẳn trọng lực của con người để  bay đi đây đó, chẳng khác nào  các linh ảnh mà chú đã từng gặp ở tại ngay dãy Hy Mã Lạp Sơn Huyền Nhiệm này.  Không phải đợi mãi đến cuối thế kỷ XX và những năm đầu của thế kỷ 21, nền văn minh nhân loại mới đạt đến đỉnh cao chói lọi, mà nó đã có từ ngàn xưa, ngay trong thời đại con người còn nằm trong trạng huống gần như u muội.  Ta nói thế, không phải là quá quắt, mà đó là sự thật.  Nền văn minh lúc bấy giờ đã âm thầm trải qua những bước nhảy vọt đột biến trên lĩnh vực khoa học một cách thần kỳ. Câu chuyện Phong Thần của Trung Quốc, không phải là chuyện giả tưởng, giàu sức tưởng tượng, mà ta có thể xác quyết rằng đó là sự thật. Sở dĩ, sau một thời kỳ cực thịnh lúc bấy giờ thì  tất cả những phát minh - mặc dù là phát minh trên  phương pháp lý thuyết chứ  không bằng vào kỹ thuật .  Loài người thời cổ đại đã phát hiện ra không ít các quy luật của tự nhiên tuần tự tiến triển với quy luật của xã hội cùng tư duy của con người. Điều chắc chắn rằng không phải đợi đến thời đại tân tiến hiện đại con người mới phát giác ra giới động thực vật như từ loài khủng long khổng lồ có sức nặng đến hàng chục tấn đến những loài vi khuẩn cần phải phóng đại ra  hàng vạn lần mới nhận diện được, hoặc giả phải chờ cho đến khi có vết chân của con người in dấu trên mặt nguyệt cầu, hay các phi thuyền không gian vượt thời gian và không gian để chiêm ngưỡng sao Hỏa, sao Thủy, sao Mộc  v.v.. mới biết được.. Loài người cổ đại đã biết sử dụng bằng trí não và nguồn điện năng của chính bản thân mình để nhìn thấy và thực hiện  được từng phần từ bao giờ rồi. Hiện con người của thế kỷ 21 này đang còn liên tục khám phá các  thiên thể trong dải Ngân Hà. Loài người tuy bước tiến chậm chạp song vững chắc, thành công được trên nhiều lĩnh vực...Tuy nhiên, tiếc thay  thế giới chung quanh chúng ta hiện hữu, các nhà khoa học vẫn còn ngỡ ngàng nhiều điều bí ẩn, hiện nay vẫn còn chưa lý giải được những khả năng tiềm tàng  vĩ đại của con người.  
         Nói đến đây thầy tôi thở dài hạ thấp giọng:
         - Thật thế, Lỗ San à!  Con người từ ngàn xưa có thể tìm thấy và lần ra những bí ẩn của các phép Xuất Hồn, hoặc phép Khinh Thân v.v...qua các pho kinh sách vĩ đại như Kinh dịch,Thái Ất thần kinh... của Trung Hoa, hoặc qua các môn phái Thiền học tĩnh tọa, Yoga xuất phát từ hàng ngàn năm trước tại Ấn Độ... Các môn phái Thiền học này quả không hổ thẹn đã đưa con người đạt đến trình độ cực kỳ thâm hậu nhất của tư tưởng Samadhi và từ đó vươn đến mức thượng thừa đưa con người đến với các bí mật của vũ trụ.
         - Thưa Minh sư, nói như vậy, hóa ra con người có thể sánh với thần thánh hay sao?
        - Thần hay thánh đều từ con người xuất phát.
         - Do đâu mà con người đạt đến trình độ đến như vậy được?
         - Nếu con người quả có Nhân duyên, Nhân quả có thể đạt đến Bát thức và Vô lượng thức, do đó mà thân xác họ có thể hòa đồng được với Vũ trụ vô hình,vô ảnh... Và, như ta đã nói vị Thiền sư đã vượt qua trùng dương, bể cả từ Trung Quốc trở về  xứ sở của mình bằng bí pháp Phi Thân thoát khỏi sức hút của trái đất qua sự điều khiển thế giới chung quanh mình bằng linh giác và bằng trí năng thượng thừa của mình.  
         - Thưa thầy, nói như vậy thì đó là kho tàng di sản của nền văn hóa vĩ đại của con người thời xa xưa đã tích lũy được qua hàng vạn năm âm thầm vận động, chiêm nghiệm sao?!
         - Thì chính là như vậy.
         Nói xong người đưa mắt nhìn ra ngoài trời. Bóng đêm đã hoàn toàn buông xuống.  Trời tối đen như mực. Khẽ thở dài, người nói qua hơi thở:
         - Lại một người ra đi... Tội nghiệp...
         - Thưa thầy, ai thế?
         Người không đáp lại chỉ lặng lẽ dắt tay tôi đến sườn đồi nhìn xuống chân núi. Qua thần giao cách cảm, tôi biết người vừa ra đi đó là ai. Hai mắt chan hòa cả lệ, nhưng tôi không dám khóc ra thành tiếng...
         - Lại một người ra đi! Người đó là nhà sư  Kenji Tekeuchi!
         - Nói đến đây người lặng lẽ đưa tay chỉ đến nơi đang lố nhố một đám đông mà tôi không thể nhận rõ là họ đang làm gì...
         - Đám đông người lố nhố phía dưới chân núi đó là đám tang của nhà sư Kenji Tekeuchi mà chú từng quen biết.  
         - Thầy tôi bỗng quì xuống, ngửa mặt nhìn lên trời. Tôi lập tức quì theo ngay xuống và làm y theo động tác của thầy tôi...
         Bằng giọng trầm trầm thầy tôi thì thầm:
         - Ôi! Hỡi ông Tekeuchi, xác ông đã được mang xuống núi, còn linh hồn ông đang phiêu diêu đây đó ở giữa khoảng không gian mênh mông vô tận... Bắt đầu từ nay hồn thiêng ông đang lặng lẽ bay trên con đường râm mát thơm tho lan tràn cùng khắp... Ông bạn ơi! Hãy quên đi những lỗi lầm đáng tiếc mà ông đã phạm phải!  Đấng Huyền Nhiệm sẽ tha thứ cho ông...
         Tôi đăm đăm dõi theo đám tang đang được di chuyển quanh theo sườn núi. Nước mắt tôi vẫn tuôn trào và cuối cùng  không còn cầm được nỗi xúc động nữa, tôi bật khóc thành tiếng...
         Tiếng gió từ cánh rừng sâu thổi lại khiến hàng cây phong trước mắt tôi lay động phát ra âm thinh rì rào... Chẳng biết  vì  xúc động trước cái chết của nhà sư này hay mắt mình bị ảo giác tôi chợt nhìn thấy hình ảnh của người quá cố đang chập chờn hiện ra trước mắt. Chẳng những vậy, tôi còn nghe cả giọng tha thiết của nhà sư Tekeuchi vẳng vọng đến tai tôi:
         - Lỗ San! Ta vâng theo định mệnh ra đi vĩnh viễn khỏi cuộc đời này...Ta cám ơn chú đã khóc thương cho số phận ta... Cảm ơn chú rất nhiều khi ta còn trên dương thế, chú và ta đã truyền cảm cho nhau... Chúng mình sẽ gặp nhau vào một kiếp khác cũng vào một ngày đẹp trời nào đó như hôm nay... Thôi, đừng khóc nữa, Lỗ San!

********************

         Hôm sau, Minh Sư Minh Dà Đông Đạt  lại đưa tôi đến ngay ngọn núi mà trước kia chúng tôi từng ngồi đưa mắt vọng nhìn qua bên kia rặng núi có Cổ Hiền Thạch Động:
         - Ta nghĩ rằng nhà sư Nhật Bản kia đang đi vào cái lỗ đen ở tận khoảng không gian mênh mông vô cùng tận đó... Cái lỗ đen rộng lớn vô cùng kia chính là  nghĩa địa của những linh hồn lầm lẫn... Linh hồn nhà sư sẽ vĩnh viễn ở nơi đây... xoay chuyển liên hồi không bao giờ đứng nguyên một chỗ. Chú còn nhớ cái lỗ đen nơi tấm kiếng trong Cổ Hiền Thạch Động không?
         Tôi ngẫm nghĩ trong giây lâu đoạn gật đầu:
         - Thưa thầy, con nhớ. Đó là một lỗ hổng đen như mực mài...
        Thầy tôi gật đầu:
         - Đúng như vậy.

         (Các nhà thiên văn của Viện Thiên Văn Học Cambridge (Anh)  đã có dịp quan sát vật chất ở tâm của thiên hà cách chúng ta 100 triệu năm ánh sáng bị hút về một lỗ đen cực kỳ to lớn. Khoảng cách từ các vật chất  đến lỗ đen bằng cả khoảng cách từ hành tinh chúng ta  đến mặt trời. Thông thường phải mất cả một năm  các vật chất bị hút mới đến được lỗ đen, nhưng  với sức hút của lỗ đen chỉ mất có  6 tiếng đồng hồ vì lực hút cực mạnh của lỗ đen này đã tăng thêm đến ba phần tư tốc độ.
         Các nhà khoa học có thể tính toán được khối lượng của lỗ đen  này bằng kết hợp  các phép tính năng lượng  của ánh sáng, khoảng cách của các vật chất đến  lỗ đen và thời gian  chúng bị hút về rồi quay quanh lỗ đen - sự kết hợp giữa thuyết tương đối của Einstein và các thuyết vật lý của Keplerian.
         Thiên hà này có tên là NGC 3516, cách chúng ta khoảng 100 triệu năm ánh sáng. Bên sau thiên hà là một lỗ đen cực kỳ rộng lớn. Các luồng khí nóng ở vùng trung tâm  bức xạ ra các tia X như thể chúng nóng đến  hàng triệu độ dưới tác động của lực hấp dẫn của lỗ đen.
         Tàu vũ trụ XMM-NEWTON đã bắt được các quang phổ từ ánh sáng phát ra quanh lỗ đen và cũng ghi nhận được rằng các luồng khí bị kích thích quay quanh lỗ đen 4 lần. Đây là một thông tin thiết yếu để tính được khối lượng của lỗ đen - biểu tượng của cái nghĩa địa ở ngoài không gian...
         Dựa vào các thông tin khác về khoảng cách, thời gian quay chung quanh mà các nhà khoa học đã tính được khối lượng của lỗ đen này - nó gấp từ 10 đến 50 triệu lần khối lượng của mặt trời.)

         Quên cả thầy tôi đang ngồi bên cạnh, tôi áp dụng bí pháp Xuất Hồn để cho Linh Thân mình thoát ra phần thể xác. Tôi nhẹ nhàng băng xuống chân núi rồi nối đuôi theo đám người đang lặng lẽ đi theo áo quan của nhà sư Tekeuchi. Chẳng có tiếng động nào, duy chỉ tiếng của những bước chân đi... Chẳng một ai biết có tôi đang theo giòng người của họ.  
         Tôi lắp bắp trong miệng: Ông Kenji Tekeuchi ơi!  Ông có gặp các vị thần có nhiệm vụ trông nom những người đang quằn quại đau thương ở cõi trần này không?  Nếu có, xin ông nhắn hộ lời tôi đến với các vị thần linh ấy rằng, họ vẫn chưa làm tròn trọng trách của mình, vì chưng thế gian này vẫn còn dẫy đầy nỗi tang thương và còn ngập tràn khổ hạnh...

Hết
Về Đầu Trang
Trình bày bài viết theo thời gian:   
Gửi bài mới   Trả lời chủ đề này    TRUNG HỌC DUY TÂN - PHAN RANG -> Tâm Linh Thời gian được tính theo giờ EST (U.S./Canada)
Trang 1 trong tổng số 1 trang



 
Chuyển đến 
Bạn không có quyền gửi bài viết
Bạn không có quyền trả lời bài viết
Bạn không có quyền sửa chữa bài viết của bạn
Bạn không có quyền xóa bài viết của bạn
Bạn không có quyền tham gia bầu chọn


    
Powered by phpBB © 2001, 2005 phpBB Group
Diễn Đàn Trung Học Duy Tân